Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Ở nước ngoài: Lịch sử đã chứng minh rằng, từ khi loài người xuất hiện trên trái đất, để tồn tại và phát triển thì con người đã liên kết lại với nhau thành các nhóm nhằm chống lại sự tiêu diệt của thú dữ và thiên nhiên. Trong từng nhóm người đó đã xuất hiện một số người có khả năng chi phối được người khác, đồng thời cũng điều khiển được hoạt động của nhóm sao cho phù hợp theo mục đích chung. Những người đó đóng vai trò là thủ lĩnh để quản lý nhóm.
Báo cáo của Ủy ban quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI của UNESCO (l996) đã khẳng định “vai trò quyết định của nguời thầy giáo trong việc chuẩn bị cho thế hệ trẻ có trách nhiệm xây dựng tương lai của nhân loại theo hướng toàn cầu hóa”; khẳng định “thầy giáo là yếu tố quyết định hàng đầu đối với chất lượng giáo dục. Do đó, muốn phát triển giáo dục thì trước hết và trên hết phải phát triển đội ngũ giáo viên cả về số lượng và chất lượng” [24]. Ở Trung Quốc, để đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, một trong những quyết sách mà Đặng Tiểu Bình nhấn mạnh là: “Phải tìm mọi cách để giải quyết tốt vấn đề giáo dục, cho dù ở các mặt khác phải nhẫn nại một chút, thậm chí hy sinh một chút về tốc độ”, “kế hoạch lớn trăm năm phải lấy giáo dục làm gốc”, và “Giáo dục phải phục vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng chủ nghĩa xã hội phải dựa vào giáo dục”. Nhật Bản đã nhiều lần cải cách giáo dục theo hướng hiện đại hóa và nhân văn hóa nên luôn xếp vào số những nước hàng đầu về chất lượng và hiệu quả giáo dục.
Nền giáo dục Nhật Bản đã đóng góp vào sự thành công của công cuộc hiện đại hóa đất nước là điều không thể phủ nhận. Bí quyết thành công do biết phát huy sức mạnh giáo dục, khai thác tối đa tiềm năng con người của Nhật Bản chính là bài học quý giá đối với các nước châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng trên con đường phát triển đất nước. Ở trong nước: Một trong những quan điểm về phát triển giáo dục có giá trị cao ở Việt Nam là tư tưởng về giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lúc sinh thời, Bác luôn quan tâm đặc biệt đến sự nghiệp giáo dục và đào tạo con người.
Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, một trong các chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta là xoá bỏ chính sách ngu dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố với đồng bào rằng, giặc dốt cũng nguy hại như giặc đói. Người xếp đầu tiên là giặc đói, thứ hai là giặc dốt, rồi cuối cùng mới đến giặc ngoại xâm. Người nói: “Một dân tộc dốt 6 là một dân tộc yếu”, “Phải làm cho dân tộc ta thành một dân tộc thông thái”, “làm sao ai cũng được học hành”.
Trong Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 đã chỉ ra một trong những yếu kém của giáo dục Việt Nam 2001-2010 là “đội ngũ nhà giáo thiếu về số lượng và nhìn chung thấp về chất lượng, chưa đáp ứng được yêu cầu vừa phải tăng nhanh quy mô vừa phải đảm bảo và nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục”. Trong các giải pháp phát triển giáo dục, ở văn bản chiến lược này đã đề cập giải pháp phát triển đội ngũ nhà giáo nhằm “đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu và chuẩn về chất lượng, đáp ứng nhu cầu vừa tăng quy mô vừa nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục” [7]. Tại Hội nghị triển khai chương trình giáo dục phổ thông (tháng 4/2002), nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải đã đánh giá: “Đội ngũ giáo viên của một số địa phương về số lượng còn thiếu, cơ cấu chưa đồng bộ, trình độ chuyên môn và phương pháp dạy học còn nhiều hạn chế, nhất là đội ngũ giáo viên công tác ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa”, đồng thời đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết nhằm kiện toàn đội ngũ GV như đánh giá, xếp loại, bồi dưỡng, đào tạo lại và giải quyết chính sách nghỉ hưu trước tuổi. Đánh giá vai trò, tầm quan trọng của công tác phát triển đội ngũ giáo viên, nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải đã nhấn mạnh: “Có thể nói rằng, nhà giáo là người quyết định sự thành bại của giáo dục, vì vậy chúng ta phải chăm lo đào tạo thầy giáo, cô giáo” [5].
Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đã nêu nhiệm vụ: “Tiến hành rà soát, sắp xếp lại đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đảm bảo đủ số lượng và cân đối về cơ cấu; nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức cho đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục” [9]. Qua những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo trên phần nào cũng nói lên tầm quan trọng của xã hội đối với giáo dục trong mọi thời đại, đặc biệt là vai trò của giáo dục nói chung và đội ngũ nhà giáo nói riêng. Ngày 22 tháng 8 năm 2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 20/2018/TT-BGDĐT quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông; không chỉ tạo cơ sở cho việc thiết kế chương trình đào tạo giáo viên, chuẩn kiểm định chất lượng đào tạo mà còn là cơ sở để các giáo viên tự đánh giá năng lực, phẩm chất của mình, là căn cứ để cán bộ quản lí giáo dục quản lí, phát triển đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Trong chương trình đào tạo cao học chuyên ngành Quản lý giáo dục, đã có nhiều luận văn nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên như: - Tác giả Nguyễn Thanh Dân (2010) nghiên cứu về “Thực trạng và biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên THCS ở huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau” đã tổng kết lý luận và đánh giá thực trạng ĐNGV, đề xuất một số biện pháp quản lý hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ [8].
- Tác giả Phùng Văn Thời (2010) viết đề tài về “Quản lý phát triển đội ngũ giáo 7 viên THPT huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn” đã nghiên cứu cơ sở lý luận về ĐNGV, đánh giá thực trạng công tác quản lý đội ngũ và đề xuất một số biện pháp nâng cao năng lực nghề nghiệp cho ĐNGV THPT [20]. - Tác giả Trần Thị Thanh Hòa (2012) nghiên cứu về “phát triển đội ngũ giáo viên trung học phổ thông huyện Trà Bồng tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn hiện nay” [13]. - Tác giả Lê Trung Chinh (2015) viết đề tài “Phát triển đội ngũ giáo viên THPT thành phố Đà Nẵng trong bối cảnh hiện nay” với những nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng về phát triển ĐNGV đồng thời đề xuất các giải pháp phát triển đội ngũ trước những yêu cầu đổi mới giáo dục [6]. - Tác giả Võ Thị Minh Phương (2018) nghiên cứu về “Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên trung học cơ sở Quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông” [17].
Tuy nhiên, các văn bản, luận văn kể trên chưa có công trình nghiên cứu nào về thực trạng đội ngũ nhà giáo các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam, để làm đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên Trung học phổ thông các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Các khái niệm chính của đề tài 1. Quản lý giáo dục 1. Quản lý Khi xã hội loài người xuất hiện thì một loạt các mối quan hệ nảy sinh: quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên, giữa con người với xã hội.
Điều này nảy sinh nhu cầu quản lý. Khi từng cá nhân tập hợp lại thành nhóm hay tổ chức thì sự quản lý là cần thiết. Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu đưa ra nhiều khái niệm quản lý: Henri Fayol (1841 - 1925), người Pháp, cho rằng: “quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”. Frederich Wiliam Taylor (1856 - 1915) cho rằng: “quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”.Mác đã viết: “Bất cứ lao động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào được thực hiện ở quy mô tương đối lớn đều cần đến một chừng mực nhất định của sự quản lý.
Quản lý là sự xác lập, sự tương hợp giữa các công việc cá thể và hoàn thành những chức năng chung xuất hiện trong sự vận động đối với các bộ phận riêng lẻ của nó”. Ông ví hoạt động quản lý như là công việc của người nhạc trưởng: “Một người chơi vĩ cầm riêng lẻ thì tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng”.Mác cũng cho rằng: “Quản lý là một chức năng tất yếu của lao động xã hội, nó gắn chặt với sự phân công và phối hợp” [4]. Theo từ điển Tiếng Việt: “Quản lý là trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất 8 định. “Quản lý” là từ Hán Việt được ghép giữa từ “Quản” và từ “Lý”.
“Quản” là sự trông coi, chăm sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định. “Lý” là sự sửa sang, sắp xếp, làm cho nó phát triển. Như vậy, “Quản lý” là trông coi, chăm sóc, sửa sang làm cho nó ổn định và phát triển. Chính vì sự đa dạng và phong phú của quản lý nên có nhiều khái niệm khác nhau và tư tưởng quản lý cũng khác nhau.
Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là tác động có định huớng, có chủ đích của chủ thể quản lý (nguời quản lý) đến khách thể quản lý (nguời bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đuợc mục đích của tổ chức” [16]. Có thể mô tả khái niệm bằng sơ đồ 1.1: Chủ thể quản lý Khách thể Mục tiêu quản lý quản lý Đối tượng quản lý Sơ đồ 1.