MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) giữ vai trò vô cùng quan trọng trong tiến trình phát triển nền kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội của mỗi quốc gia. Khi nền giáo dục đƣợc định hƣớng đúng và phát triển bền vững, con ngƣời sẽ tạo đƣợc tiền đề quan trọng để chiếm lĩnh nguồn tri thức ngày càng sâu và rộng hơn. Ngày nay, giáo dục đã trở thành cầu nối để quốc gia chinh phục nền văn hóa tri thức và giáo dục chính là chìa khóa mở cánh cửa tri thức của nhân loại.
Trong công tác quản lý (QL) giáo dục, bên cạnh công tác QL chuyên môn, việc vận dụng kiến thức QL hành chính Nhà nƣớc vào lĩnh vực GDĐT yêu cầu nhà QL không chỉ am hiểu về kiến thức chuyên môn mà phải vận dụng tốt kiến thức về QL. Đất nƣớc chúng ta bƣớc vào thế kỷ XXI trong bối cảnh thế giới với xu thế toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, GDĐT đƣợc xác định là bộ phận quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nƣớc và của cả dân tộc Việt Nam. GDĐT giữ vai trò quyết định đến sự tồn tại của quốc gia và trở thành quốc sách của tất cả các nƣớc muốn hội nhập và phát triển. Trong đó, đội ngũ cán bộ quản lý (CBQL) luôn đƣợc xem là yếu tố căn bản, giữ vai trò quyết định đến chất lƣợng giáo dục của nhà trƣờng nói chung, trƣờng trung học phổ thông (THPT) nói riêng, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục.
Điều 61 Hiến pháp nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đƣợc Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28/11/2013 khẳng định: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dƣỡng nhân tài” [34] và “Nhà nƣớc ƣu tiên đầu tƣ và thu hút các nguồn đầu tƣ khác cho giáo dục” [34] vì phát triển nguồn nhân lực chính là yếu tố quan trọng dẫn đến thành công của mọi quốc gia trong thời đại mới. Phát triển nguồn lực con ngƣời nhằm tạo nên những con ngƣời mới, những con ngƣời của nền kinh tế tri thức. Bên cạnh đó, nhằm khẳng định vị trí, vai trò của giáo dục, Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Chấp hành Trung ƣơng xác định “Phát triển GDĐT là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, là điều kiện để phát huy nguồn lực con ngƣời. Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo và CBQL giáo dục là lực lƣợng nòng cốt, có vai trò quan trọng” [1].
Chỉ thị nêu rõ: “Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo 2 dục đƣợc chuẩn hóa, đảm bảo chất lƣợng, đủ về số lƣợng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lƣơng tâm, tay nghề của nhà giáo, thông qua việc QL, phát triển đúng định hƣớng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc” [1]. Điều 12 Luật Giáo dục khẳng định “Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Nhà nƣớc và của toàn dân”, “Mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trƣờng thực hiện mục tiêu giáo dục, xây dựng môi trƣờng giáo dục lành mạnh và an toàn” [35]. Ngoài ra, Chiến lƣợc phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 cũng đã khẳng định nhiệm vụ chủ yếu của GDĐT là “Phát triển và nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lƣợng cao là một đột phá chiến lƣợc” [43]. Luận điểm trên cho thấy việc phát triển đội ngũ CBQL giáo dục là nhiệm vụ cấp thiết của ngành GDĐT.
Lĩnh vực QL ngành GDĐT đƣợc Nhà nƣớc thực hiện bƣớc đột phá trong công tác chỉ đạo từ Đại hội lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã đề ra mục tiêu phát triển GDĐT đến năm 2020 nhƣ sau: “Đổi mới công tác đào tạo, bồi dƣỡng đội ngũ giáo viên (GV) và CBQL giáo dục” [10]. Trải qua các kỳ Đại hội Đảng, lĩnh vực GDĐT tiếp tục đƣợc Đảng và Nhà nƣớc quan tâm trong việc chỉ đạo và đầu tƣ thực hiện. Tuy nhiên, lĩnh vực giáo dục không phải lúc nào cũng thuận lợi và luôn gặt hái đƣợc những thành công tốt đẹp.
Giáo dục đôi khi đứng trƣớc những thử thách rất khắc nghiệt, đòi hỏi sự chung tay góp sức của các cấp, các ngành để nâng cao vị thế của nền giáo dục. Bên cạnh những kết quả đã đạt đƣợc trong lĩnh vực giáo dục rất đáng khích lệ nhƣ: “Mạng lƣới giáo dục, đào tạo đƣợc mở rộng, quy mô và chất lƣợng đƣợc nâng lên, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội. Nội dung, phƣơng pháp giáo dục, đào tạo, thi cử và kiểm định chất lƣợng có đổi mới. Cơ cấu đào tạo hợp lý hơn” [11] thì ngành GDĐT nƣớc ta vẫn tồn tại “nhiều hạn chế, yếu kém chậm đƣợc khắc phục” [11], “Đội ngũ nhà giáo và CBQL chƣa đáp ứng yêu cầu” [11], “chất lƣợng GDĐT chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế” [4].
“Một số nhà giáo và CBQL giáo dục chƣa đáp ứng đƣợc trƣớc yêu cầu đổi mới” [4]. Đại hội lần thứ XII của Đảng năm 2016 cũng đã đề ra mục tiêu tổng quát, các chỉ tiêu quan trọng và nhiệm vụ trọng tâm trong 5 năm 2016 - 2020 là “Tiếp tục thực hiện có hiệu quả ba đột phá chiến lƣợc” [11], trong đó có “đổi mới căn bản và 3 toàn diện GDĐT; phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lƣợng cao” [11]. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 cũng khẳng định công tác QL GDĐT còn nhiều yếu kém. Đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục bất cập về chất lƣợng, số lƣợng và cơ cấu; một bộ phận chƣa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp [2].
Chính vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường trung học phổ thông tại tỉnh Bình Dương” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình. Mục đích nghiên cứu Hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác phát triển đội ngũ CBQL trƣờng THPT; Khảo sát, đánh giá thực trạng phát triển đội ngũ CBQL các trƣờng THPT tại tỉnh Bình Dƣơng và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác phát triển đội ngũ CBQL các trƣờng THPT tại tỉnh Bình Dƣơng. hách thể và đối tƣợng nghiên cứu 3. Khách thể nghiên cứu Công tác QL nhân sự trƣờng THPT.
Đối tượng nghiên cứu Thực trạng phát triển đội ngũ CBQL các trƣờng THPT tại tỉnh Bình Dƣơng. Giả thuyết khoa học Công tác phát triển đội ngũ CBQL trƣờng THPT của tỉnh Bình Dƣơng đã đạt đƣợc một số thành tựu trong việc quy hoạch, đào tạo, bồi dƣỡng CBQL. Tuy nhiên, công tác này vẫn còn hạn chế ở khâu đánh giá và tạo môi trƣờng làm việc cho đội ngũ CBQL. Nếu khảo sát, đánh giá đúng thực trạng phát triển đội ngũ CBQL các trƣờng THPT tại tỉnh Bình Dƣơng thì ngƣời nghiên cứu có thể đề xuất một số biện pháp cần thiết, khả thi nhằm nâng cao hiệu quả công tác phát triển đội ngũ CBQL tại các trƣờng THPT của tỉnh này.
Nhiệm vụ nghiên cứu - Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ CBQL các trƣờng THPT. - Khảo sát, đánh giá thực trạng phát triển đội ngũ CBQL các trƣờng THPT tại 4 tỉnh Bình Dƣơng. - Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao chất lƣợng phát triển đội ngũ CBQL các trƣờng THPT tại tỉnh Bình Dƣơng. Giới hạn phạm vi nghiên cứu 6.
Giới hạn nghiên cứu Đề tài chỉ tập trung vào nghiên cứu thực trạng phát triển đội ngũ CBQL các trƣờng THPT tại tỉnh Bình Dƣơng. Trong đề tài này, tác giả luận văn chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển đội ngũ CBQL của các trƣờng THPT công lập tại tỉnh Bình Dƣơng với 5 nội dung: quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL; bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển CBQL; đào tạo, bồi dƣỡng đội ngũ CBQL; tạo môi trƣờng, động lực cho sự phát triển đội ngũ CBQL; đánh giá đội ngũ CBQL. Phạm vi nghiên cứu Cấp Sở: Đơn vị thuộc Sở có chức năng trực tiếp tham mƣu Giám đốc thực hiện công tác phát triển đội ngũ CBQL trƣờng THPT là phòng Tổ chức cán bộ. Cấp trƣờng THPT: Tỉnh Bình Dƣơng hiện có 36 trƣờng THPT gồm 28 trƣờng công lập và 8 trƣờng tƣ thục.
Nghiên cứu đƣợc tiến hành tại 5 trƣờng THPT công lập tại tỉnh Bình Dƣơng bao gồm: Trƣờng THPT Võ Minh Đức, Trƣờng THPT Nguyễn Trãi, Trƣờng THPT Thái Hòa, Trƣờng THPT Thƣờng Tân, Trƣờng THPT Thanh Tuyền. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu 7. Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu 7. Quan điểm hệ thống - cấu trúc Theo quan điểm hệ thống - cấu trúc, tất cả các sự vật, hiện tƣợng trong tự nhiên đều tồn tại trong một hệ thống trọn vẹn với nhiều yếu tố hợp thành.
Các yếu tố này không tồn tại độc lập mà có quan hệ biện chứng với nhau và với các yếu tố, hệ thống khác trong một môi trƣờng nhất định. Quan điểm hệ thống - cấu trúc giúp nghiên cứu sự vật, hiện tƣợng một cách toàn diện, trên nhiều khía cạnh, dựa vào việc phân tích đối 5 tƣợng thành các bộ phận, xác định mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố của hệ thống để tìm quy luật phát triển. Qua cách tiếp cận này, ngƣời nghiên cứu hiểu đƣợc mối liên hệ chặt chẽ giữa phát triển đội ngũ CBQL với công tác QL nội dung khác của nhà trƣờng. Bên cạnh đó, ngƣời nghiên cứu cũng xem xét công tác QL của THPT là một hệ thống, trong đó, phát triển đội ngũ CBQL là một hệ thống nhỏ hơn với các yếu tố hợp thành nhƣ: quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL; bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển CBQL; đào tạo, bồi dƣỡng đội ngũ CBQL; tạo môi trƣờng, động lực cho sự phát triển đội ngũ CBQL; đánh giá đội ngũ CBQL.
Khi đề xuất các nhóm biện pháp phát triển đội ngũ CBQL, các nhóm biện pháp đƣợc nghiên cứu trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm tạo ra sự tác động tổng hợp và sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các nhóm biện pháp.