Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề Hoạt động QL bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động. Chính sự phân công, hợp tác lao động nhằm mục đích đạt hiệu quả, năng suất cao hơn trong lao động, đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý., phải có người đứng đầu. Đây là hoạt động giúp người thủ trưởng phối hợp nỗ lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng, trong tổ chức đạt được mục tiêu đề ra.
Nói đến hoạt động này, người ta thường nhắc đến quan điểm của C. Mác: "Bất cứ lao động hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn, đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân. Một nhạc sĩ độc tấu thì điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng" [7, tr. Thuật ngữ “Quản lý” (tiếng Việt gốc Hán) lột tả được bản chất hoạt động này trong thực tiễn, gồm hai quá trình tích hợp vào nhau: quá trình “Quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đưa hệ vào thế “phát triển”.
"Các tư tưởng quản lý sơ khai xuất phát từ các tư tưởng triết học cổ Hy Lạp và cổ Trung Hoa, trong đó có sự đóng góp của các nhà triết học tuy còn ít ỏi nhưng rất đáng ghi nhận": đó là các tư tưởng của Xôcrát (469-399 Tr. CN), Platôn (427-347 Tr.CN) và Arixtôt (384- 322 Tr. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều quan điểm chỉ đạo về công tác QL, Người nhấn mạnh đến tầm quan trọng của người QL, Người khẳng định cán bộ là cái gốc của mọi công việc, muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, 6 gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng.
Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn coi GD là quốc sách hàng đầu. Quan điểm xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta đối với việc xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD là luôn khẳng định vai trò quyết định của nhà giáo trong việc nâng cao chất lượng và tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ QLGD trong việc điều hành một hệ thống GD đang ngày càng mở rộng và phát triển. Do đó, đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD luôn nhận được sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước. Ngày 11/01/2005, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 09/2005/QĐ - TTg về việc phê duyệt đề án “Xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD giai đoạn 2005 - 2010” với mục tiêu tổng quát là: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo hướng chuẩn hóa, nâng cao chất lượng, bảo đảm đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn của nhà giáo, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục trong công cuộc đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước” [39].
Chính vì vậy, trong thời gian gần đây có rất nhiều tác giả, các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu về vấn đề này, cụ thể: Tác giả Nguyễn Ngọc Quang đã nghiên cứu: “Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục” đã đề cập đến những khái niệm cơ bản của QL, QLGD, các đối tượng của khoa học QLGD [34]; các tác giả Vũ Ngọc Hải, Trần Khánh Đức nghiên cứu: “Hệ thống giáo dục hiện đại trong những năm đầu thế kỷ XXI” đã trình bày những quan điểm, mục tiêu, giải pháp phát triển GD và hệ thống GD [19]. Bên cạnh đó có một số luận văn Thạc sĩ nghiên cứu về phát triển đội ngũ CBQL trong các trường TH như: tác giả Trần Quốc Thắng - Các biện pháp 7 xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học tỉnh Quảng Bình đến năm 2010 [38]; tác giả Đồng Thị Thanh Hải - Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường Tiểu học trên địa bàn tỉnh Gia Lai trong giai đoạn hiện nay [20]; tác giả Nguyễn Anh Hùng - Biện pháp xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý các trường Tiểu học huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng [23]; tại tỉnh Bình Định tác giả Mai Xuân Hậu đã nghiên cứu về Phát triển đội ngũ CBQL các trường Tiểu học huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định [21],. Các công trình nghiên cứu trên đã đi sâu phân tích những khái niệm công cụ: QL, QLGD, biện pháp, đội ngũ.xây dựng khung lý thuyết về phát triển đội ngũ cán bộ QLGD. Khảo sát đánh giá thực trạng xây dựng đội ngũ trên các phương diện số lượng, chất lượng, cơ cấu, công tác đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, và chế độ chính sách.
Từ đó đề xuất các giải pháp, biện pháp phát triển đội ngũ theo tiếp cận chức năng hoặc năng lực. Tuy nhiên nghiên cứu tổng quan còn chung chung, đánh giá thực trạng dàn trải. Biện pháp, giải pháp chưa gắn với kết quả khảo sát thực trạng, nội dung biện pháp, giải pháp còn chung chung, chủ yếu nêu ra những yêu cầu. Trong công trình này, chúng tôi tiếp thu và kế thừa các thành tựu trên, đồng thời tiếp tục đi sâu nghiên cứu làm sáng tỏ thêm các vấn đề mà các tác giả đi trước đặt ra nhưng chưa giải quyết có kết quả.
Trong những năm gần đây, ngành GD nước ta đang không ngừng đổi mới toàn diện đáp ứng với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, thành phố Quy Nhơn đang vươn mình phát triển trở thành một trong những thành phố, trung tâm văn hóa – chính trị trọng điểm của khu vực Miền Trung – Tây Nguyên. Vì vậy việc xây dựng đội ngũ cán bộ QLGD đáp ứng yêu cầu mới của các ngành học, bậc học, theo định hướng mới là một trong những nhiệm vụ vô cùng trọng tâm. Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý Khái niệm “Quản lý” được hình thành từ rất lâu cùng với sự phát triển 8 của nhân loại.
Mọi hoạt động của xã hội đều cần QL. QL vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật. Hoạt động QL là hoạt động cần thiết phải thực hiện khi những con người kết hợp với nhau trong các nhóm, có tổ chức nhằm đạt mục tiêu chung. Trên cơ sở những quan điểm khác nhau, cách tiếp cận khác nhau, đã có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm QL: Theo Từ điển Tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê (chủ biên) có ghi: “Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định" [32, tr.
Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [8, tr. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo và tập thể tác giả: “Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung” [4, tr. Theo Giáo sư Hà Thế Ngữ và Giáo sư Đặng Vũ Hoạt thì: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý có hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [31, tr.
Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [25, tr. Như vậy, khái niệm QL có thể hiểu là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức của chủ thể lên khách thể thông qua các cơ chế QL, nhằm sử dụng 9 có hiệu quả cao nhất các nguồn lực bên trong và bên ngoài trong điều kiện môi trường luôn có biến động để cho hệ thống ổn định và vận động theo chiều hướng phát triển tích cực đạt được những mục tiêu đề ra. Quản lý giáo dục GD là một hoạt động đặc trưng của lao động xã hội. Đây là hoạt động chuyên môn nhằm thực hiện quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội qua các thế hệ, đồng thời là một động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội.
Để hoạt động này vận hành có hiệu quả, GD phải được tổ chức thành các cơ sở, tạo nên một hệ thống nhất. Điều này dẫn đến một tất yếu là phải có một lĩnh vực hoạt động có tính độc lập tương đối trong GD, đó là hoạt động QLGD. QLGD được xem như là một hoạt động chuyên biệt để QL các cơ sở GD. Có nhiều quan niệm khác nhau về QLGD: Theo Giáo sư Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường hay nói rộng ra là quản lý giáo dục là quản lý hoạt động dạy và học nhằm đưa nhà trường từ trạng thái này sang trạng thái khác và dần đạt tới mục tiêu giáo dục đã xác định” [17, tr.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [34, tr. Nhà nghiên cứu Trần Kiểm cho rằng: "Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở mọi cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở quy luật của quá trình giáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm lực trẻ em" [24, tr.