Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÍ TRUNG TÂM GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP - GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN CẤP HUYỆN, TỈNH ĐẮK NÔNG 1. Khái quát về lịch sử nghiên cứu của đề tài Chúng ta biết rằng, từ khi xuất hiện, hình thành và phát triển của xã hội loài người, con người chính là trung tâm của sự phát triển. Xã hội ngày nay muốn phát triển, điều đầu tiên phải biết dựa vào sức mạnh của tri thức nhân loại đó là việc sử dụng tối đa tiềm năng, phát huy được hết tiềm lực của con người là nhân tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững. Do đó, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển KT- XH của một quốc gia, dân tộc.
Bởi thế ở bất kỳ giai đoạn nào, việc phát triển đội ngũ CBQL là vấn đề rất quan trọng và có tầm ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục. Chính vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: “Cán bộ là gốc của mọi công việc”, “Huấn luyện cán bộ là gốc của Đảng” [14]. Từ những nhận định của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cơ sở kế thừa và phát huy những tư tưởng đó về chiến lược cán bộ trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, tại Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đã nêu: “Dân chủ hóa công tác cán bộ. Tiến hành thường xuyên đánh giá, lựa chọn, bố trí đi đôi với đào tạo, bồi dưỡng qua học tập và hoạt động thực tiễn để có một đội ngũ cán bộ đủ tiêu chuẩn về phẩm chất và năng lực lãnh đạo, quản lý.
Chú ý trẻ hóa đội ngũ cán bộ và chuẩn bị đội ngũ cán bộ kế tục” [8]. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã chỉ rõ: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành công hay thất bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu 6 then chốt trong công tác xây dựng Đảng” [9]. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xem công tác cán bộ là một trong ba khâu đột phá chiến lược: “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực và ứng dụng khoa học, công nghệ” [10]. Nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới, tại Đại hội XII của Đảng xác định “Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” và “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực và phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ” [11].
Trong xu hướng toàn cầu hóa như hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới và khu vực ngày càng coi trọng GDĐT, xem đây là sự phát triển KT- XH và sự lớn mạnh của đất nước. GDĐT ngày nay có tầm quan trọng đặc biệt, đã được Đảng và Nhà nước xem như là nhân tố quyết định cho tương lai của dân tộc. Khi nghiên cứu về công tác quản lý, xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL nói chung và đội ngũ CBQL các Trung tâm GDNN - GDTX cấp huyện, tỉnh Đắk Nông nói riêng là một nội dung quan trọng, cần thiết nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, góp phần: “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập của dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [6]. Đội ngũ CBQL các trung tâm là một bộ phận quan trọng trong đội ngũ cán bộ của Đảng và Nhà nước ta.
Việc phát triển đội ngũ CBQL đã trở thành 7 nhiệm vụ trọng tâm, cấp thiết vì: “Khâu then chốt để thực hiện chiến lược phát triển GDĐT là phải đặc biệt chăm lo đào tạo và chuẩn hóa đội ngũ giáo viên cũng như đội ngũ CBQL giáo dục cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ”. Chỉ thị số 40/CT-TW, ngày 15/06/2004 của Ban Bí thư về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục nêu rõ: “Phát triển GDĐT là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người. Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân trong đó nhà giáo và CBQL giáo dục là động lực nòng cốt, có vai trò quan trọng. Những năm qua, chúng ta đã xây dựng được đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục ngày càng đông đảo, phần lớn có phẩm chất đạo đức và ý thức chính trị, trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ ngày càng được nâng cao.
Đội ngũ này đã đáp ứng quan trọng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần vào thắng lợi sự nghiệp cách mạng của đất nước” [12]. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về quản lý Xuất phát từ những góc độ khác nhau cho nên, nhiều tác giả đưa ra khái niệm quản lý theo những cách tiếp cận với các góc độ khác nhau, kể cả trong nước và ngoài nước. Dưới đây là một số quan niệm về quản lý.
* Quản lý theo quan điểm của một số tác giả nước ngoài: - F. Taylor cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác các điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”. - Henri Fayol (1841-1925) hay Frederick Winslow Taylor (1856-1915) và 8 Max Weber (1864-1920) đều có chung quan điểm: “Quản lý vừa là một khoa học đồng thời lại là một nghệ thuật”. * Theo quan điểm của một số tác giả ở Việt Nam: - Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực trong và ngoài tổ chức một cách tối ưu nhằm đạt được mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [16].
- Theo tác giả Bùi Minh Hiền định nghĩa: “Quản lý là sự tác động có tổ chức có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra” [15]. - Hai tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí có đồng quan điểm: “Hoạt động quản lý là các hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [4]. - Tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì quan niệm: “Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định” [18]. Mặc dù các tác giả trong và ngoài nước đều có cách tiếp cận khác nhau về khái niệm quản lý, nhưng tất cả đều có chung quan điểm là quản lý được cấu thành do ba yếu tố cơ bản: Chủ thể quản lý; Khách thể quản lý; Sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý.
Quản lý luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống được bao gồm: Chủ thể quản lý, khách thể quản lý, cơ chế quản lý và mục tiêu chung cho cả chủ thể quản lý, khách thể quản lý, đây là căn cứ để chủ thể quản lý tạo ra các tác động quản lý. Vậy, quản lý là quá trình tác động có chủ đích, có tổ chức của chủ thể 9 quản lý lên khách thể quản lý thông qua các cơ chế quản lý nhằm làm cho tổ chức vận hành hiệu quả và đạt được mục đích của tổ chức. Quản lý là những tác động có chủ định, phù hợp qui luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm khai thác và tận dụng tốt nhất năng lực, tiềm năng để đạt mục tiêu quản lý đã định. Khái niệm về quản lý giáo dục Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, nó được sinh ra, tồn tại và phát triển song song với sự phát triển của loài người.
QLGD là một bộ phận trọng tâm của quản lý xã hội, QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý, nhằm đưa hoạt động sư phạm đạt kết quả mong muốn. Các nhà nghiên cứu về giáo dục và QLGD đã đưa ra một số quan niệm về QLGD. * QLGD theo quan điểm của một số tác giả nước ngoài: - Theo P.Khuđominxki thì: “QLGD là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp độ khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống (từ Bộ GDĐT đến nhà trường), nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hòa của họ. Trên cơ sở nhận thức và sử dụng những quy luật khách quan của quá trình dạy học, giáo dục, của sự phát triển về phẩm chất và tâm lý của trẻ em, thiếu niên cũng như là thanh niên”.
- Theo Kon-đa-cốp M.I (1984) viết về cơ sở lý luận khoa học QLGD: “QLGD là tập hợp những biện pháp tổ chức, cán bộ, kế hoạch hóa, tài chính cung tiêu.nhằm đảm bảo vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống về số lượng và chất lượng”. * QLGD theo quan điểm của một số tác giả ở Việt Nam: 10 - Theo tác giả Trần Kiểm: “QLGD theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội hiện nay” [8]. - Theo Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học- giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [11].