Tổng quan nghiên cứu

Khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam đã có sự chuyển mình vượt bậc kể từ khi công cuộc Đổi mới được khởi xướng từ Đại hội Đảng VI năm 1986. Từ quy mô khiêm tốn với chỉ 132 doanh nghiệp tư nhân đăng ký năm 1991, đến cuối năm 2005, cả nước đã ghi nhận 88.646 doanh nghiệp tư nhân đang hoạt động sản xuất kinh doanh và đóng góp tới 14,8% tổng thu ngân sách quốc gia vào năm 2001 (tương đương hơn 11.075 tỷ đồng). Tuy nhiên, phần lớn các đơn vị kinh tế tư nhân vẫn đối mặt với rào cản cố hữu về quy mô vốn nhỏ bé, khi có tới hơn 90% là doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn bình quân chỉ đạt khoảng 2,2 tỷ đồng trên một doanh nghiệp vào năm 2005. Bối cảnh Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007 đặt ra yêu cầu cấp bách phải tái cấu trúc và nâng cao sức cạnh tranh của từng mô hình kinh doanh.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế chính trị của tác giả Lê Thị Vân Liêm, dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trịnh Thị Hoa Mai tại Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội, tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển của các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam. Mục tiêu cụ thể của công trình là đánh giá toàn diện bức tranh tăng trưởng, cơ cấu chuyển dịch, hiệu quả vận hành và những điểm nghẽn thể chế của 4 loại hình doanh nghiệp chính: Doanh nghiệp tư nhân, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần và Công ty hợp danh trong giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2007, trọng tâm phân tích tại các trung tâm kinh tế đầu tàu như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu mang ý nghĩa sâu sắc trong việc cung cấp hệ thống luận cứ kinh tế chính trị vững chắc, góp phần giải phóng triệt để lực lượng sản xuất, tối ưu hóa năng suất lao động và tạo động lực tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận kinh tế chính trị Mác - Lênin về quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, kết hợp với quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam từ Đại hội VI đến Đại hội X và Nghị quyết Trung ương 5 Khóa IX về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Khung lý thuyết của đề tài tập trung vào việc làm sáng tỏ bản chất sở hữu tư nhân, sự phân hóa và chuyển hóa giữa các cấu trúc sở hữu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Bên cạnh đó, luận văn tiếp thu mô hình kinh nghiệm quốc tế về cải cách và chuyển đổi thể chế kinh tế:

  • Chiến lược "Nắm lớn, thả nhỏ" của Trung Quốc: Khẳng định vai trò bình đẳng của kinh tế tư nhân từ Hiến pháp sửa đổi năm 1999, giúp khu vực tư nhân nâng tỷ trọng đóng góp trong giá trị sản lượng công nghiệp từ 9,8% năm 1990 lên 40,1% năm 2001 và thu hút hơn 20 triệu lao động.
  • Mô hình chuyển đổi sở hữu thị trường tại Hungary: Tiến trình tư nhân hóa giai đoạn 1993 - 1997 đã chuyển đổi thành công 78% doanh nghiệp nhà nước, nâng tỷ trọng đóng góp GDP của khu vực tư nhân từ 18% năm 1989 lên 80% vào cuối năm 1997.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa theo Luật Doanh nghiệp gồm: Doanh nghiệp tư nhân (do một cá nhân làm chủ, chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản), Công ty trách nhiệm hữu hạn (thành viên chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp cam kết, tối đa 50 thành viên), Công ty cổ phần (vốn điều lệ chia thành các cổ phần, cổ đông chịu trách nhiệm hữu hạn và có quyền phát hành chứng khoán), và Công ty hợp danh (phải có ít nhất hai thành viên hợp danh cùng chịu trách nhiệm vô hạn).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phân tích các hiện tượng kinh tế trong mối liên hệ khách quan, vận động và phát triển không ngừng. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập chính thống từ Niên giám Thống kê các năm 2004, 2005, 2006 của Tổng cục Thống kê, các báo cáo chuyên đề của Ban Kinh tế Trung ương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế.

Về quy mô và phương pháp chọn mẫu, luận văn xử lý tập dữ liệu tổng thể gồm toàn bộ 88.646 doanh nghiệp tư nhân đang hoạt động và gần 200.000 doanh nghiệp đăng ký thành lập trên phạm vi 64 tỉnh, thành phố giai đoạn 1990 - 2006. Phương pháp phân tầng dữ liệu được áp dụng đồng bộ theo 4 loại hình tổ chức pháp lý, theo 4 nhóm ngành kinh tế chính (nông lâm thủy sản, công nghiệp, xây dựng, thương mại - dịch vụ) và theo không gian địa lý kinh tế. Lý do lựa chọn kết hợp thống kê mô tả, phân tích định lượng chỉ số tài chính, phương pháp so sánh chuỗi thời gian và tổng hợp quy nạp nhằm phản ánh chính xác bản chất quy luật vận động nội tại của từng mô hình doanh nghiệp, loại bỏ các sai lệch do yếu tố mùa vụ hoặc biến động hành chính ngắn hạn. Timeline nghiên cứu bao phủ giai đoạn 17 năm (1990 - 2007), đánh dấu hai cột mốc thể chế quan trọng là Luật Công ty 1990 và Luật Doanh nghiệp 1999.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ gia tăng số lượng doanh nghiệp đạt mức đột phá sau các cải cách thể chế. Trong thời kỳ 1991 - 2000, số lượng doanh nghiệp tư nhân đăng ký tăng bình quân 96,24%/năm. Kể từ khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực từ ngày 01/01/2000, số lượng doanh nghiệp thành lập mới giai đoạn 2001 - 2005 đạt bình quân 28.655 doanh nghiệp/năm, tăng gấp gần 6 lần so với giai đoạn 1991 - 1999. Tính đến cuối năm 2005, cả nước có 88.646 doanh nghiệp tư nhân đang hoạt động, trong đó Công ty TNHH chiếm ưu thế với 44.025 doanh nghiệp (chiếm 49,66%), Doanh nghiệp tư nhân có 34.908 đơn vị (chiếm 39,38%), Công ty cổ phần có 9.698 đơn vị (chiếm 10,94%) và Công ty hợp danh có 15 đơn vị (chiếm 0,02%).

Thứ hai, cơ cấu loại hình chuyển dịch rõ nét từ mô hình sở hữu cá nhân truyền thống sang các cấu trúc liên kết vốn hiện đại. Tỷ trọng Doanh nghiệp tư nhân giảm mạnh từ 71,36% trong giai đoạn 1991 - 1996 xuống còn 34% năm 2003 và 30% năm 2004. Ngược lại, tổng tỷ trọng của Công ty TNHH và Công ty cổ phần tăng từ 36% giai đoạn trước năm 2000 lên mức 67,3% năm 2004. Riêng Công ty cổ phần tăng tỷ trọng vượt bậc từ 1,1% lên 13,6% năm 2004, chứng minh xu hướng liên kết mở rộng quy mô vốn của các nhà đầu tư trong nước.

Thứ ba, vai trò giải quyết việc làm và hiệu quả tài chính có sự phân hóa sâu sắc. Đến ngày 31/12/2004, khu vực kinh tế tư nhân giải quyết việc làm cho 1.929.567 lao động chính thức, trong đó Công ty TNHH chiếm tỷ trọng lớn nhất với 1.189.713 người, Doanh nghiệp tư nhân tạo việc làm cho 431.912 người và Công ty cổ phần thu hút 307.497 người. Về quy mô vốn bình quân năm 2005, Công ty cổ phần dẫn đầu với 16,1 tỷ đồng/doanh nghiệp, tiếp đến là Công ty TNHH đạt 6,0 tỷ đồng và Doanh nghiệp tư nhân chỉ đạt 2,2 tỷ đồng. Về mặt lợi nhuận năm 2005, có 27.875 Công ty TNHH kinh doanh có lãi với tổng mức lãi 5.327 tỷ đồng (bình quân 191 triệu đồng/doanh nghiệp), 26.885 Doanh nghiệp tư nhân có lãi đạt 2.081 tỷ đồng (bình quân 77 triệu đồng/doanh nghiệp), và 5.093 Công ty cổ phần có lãi đạt 3.506 tỷ đồng (lãi bình quân cao nhất đạt 688 triệu đồng/doanh nghiệp). Tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp thua lỗ cũng ở mức cao, điển hình có 18.380 Công ty TNHH báo lỗ với tổng số tiền âm 3.560 tỷ đồng.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực nghiệm phản ánh trung thực tiến trình chuyển đổi thể chế kinh tế tại Việt Nam. Nguyên nhân chính thúc đẩy sự bùng nổ của Công ty TNHH và Công ty cổ phần là do khung khổ pháp lý từ Luật Doanh nghiệp 1999 đã dỡ bỏ hàng trăm giấy phép con, bảo vệ nguyên tắc trách nhiệm hữu hạn và tạo điều kiện phân tán rủi ro cho nhà đầu tư.

Trong các báo cáo phân tích, việc biểu diễn số liệu bằng bảng đối chiếu chuỗi thời gian phân loại theo hình thức sở hữu và biểu đồ hình cột thể hiện mức vốn bình quân cho thấy sự tương quan thuận chiều giữa mức độ tích tụ vốn và năng suất sinh lời. Công ty cổ phần thể hiện tỷ suất lợi nhuận bình quân trên một đơn vị cao gấp 8,9 lần so với Doanh nghiệp tư nhân (688 triệu đồng so với 77 triệu đồng năm 2005).

Kết quả này hoàn toàn tương thích với các nghiên cứu của Giáo sư, Tiến sĩ Hồ Văn Vĩnh (2003) và Tiến sĩ Trịnh Thị Hoa Mai (2005), đồng thời phản ánh bài học từ Trung Quốc khi khẳng định kinh tế tư nhân là động lực tăng trưởng quan trọng nhất của nền kinh tế đang phát triển. Tuy nhiên, điểm hạn chế nổi bật là tính chất dễ tổn thương của các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam khi có đến 52,59% Doanh nghiệp tư nhân có mức vốn dưới 0,5 tỷ đồng, công nghệ sản xuất lạc hậu và hơn 80% cơ sở kinh doanh phân bố lệch tại các đô thị lớn, tạo ra áp lực cạnh tranh gay gắt khi hội nhập quốc tế.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng và bối cảnh gia nhập WTO, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của các loại hình doanh nghiệp tư nhân:

  1. Hoàn thiện khung khổ pháp lý và mở rộng kênh tiếp cận tài chính tín dụng: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cùng Bộ Tài chính cần chỉ đạo các ngân hàng thương mại đơn giản hóa thủ tục thẩm định tài sản bảo đảm, đẩy mạnh hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, hướng tới mục tiêu nâng tỷ trọng dư nợ tín dụng trung và dài hạn cho khu vực kinh tế tư nhân lên 45% đến 50% trong giai đoạn 2007 - 2012.

  2. Đẩy mạnh cơ cấu lại hình thức tổ chức và ưu tiên phát triển Công ty cổ phần: Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước xây dựng cơ chế khuyến khích các Doanh nghiệp tư nhân và Công ty TNHH quy mô lớn chuyển đổi thành Công ty cổ phần, chuẩn hóa chế độ kế toán kiểm toán minh bạch, đặt mục tiêu tăng tỷ trọng Công ty cổ phần lên 20% đến 25% tổng số doanh nghiệp hoạt động vào năm 2015 nhằm tối đa hóa khả năng huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư.

  3. Nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp và chất lượng nguồn nhân lực: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cùng các Hiệp hội ngành nghề chủ trì triển khai các chương trình đào tạo chuẩn hóa kiến thức pháp luật kinh tế quốc tế, thương mại điện tử và kỹ năng quản trị hiện đại, phấn đấu đạt mục tiêu 100% chủ doanh nghiệp tư nhân được bồi dưỡng kiến thức cam kết WTO trong giai đoạn 2008 - 2011, đồng thời nâng thu nhập bình quân của người lao động trong khu vực này tăng từ 15% đến 20% mỗi năm.

  4. Quy hoạch phân bổ không gian phát triển và tăng cường liên kết cụm ngành: Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần khẩn trương quy hoạch các cụm công nghiệp tập trung tại các vùng phụ cận, áp dụng chính sách ưu đãi giá thuê đất và thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm giảm bớt sự chênh lệch mật độ doanh nghiệp, phấn đấu phân bổ tỷ lệ doanh nghiệp tư nhân tại các vùng nông thôn, trung du đạt 35% tổng số doanh nghiệp toàn quốc vào năm 2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm sau:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện về hiệu quả kinh doanh, số liệu thuế và lao động, hỗ trợ xây dựng các cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, quy hoạch ngành và hoàn thiện các nghị định hướng dẫn thi hành luật.
  • Các chủ doanh nghiệp tư nhân, nhà quản lý và giới khởi nghiệp: Hỗ trợ nhận diện rõ nét các ưu điểm và hạn chế pháp lý của từng loại hình tổ chức (Công ty TNHH, Công ty cổ phần, Doanh nghiệp tư nhân), làm cơ sở xây dựng phương án tái cơ cấu vốn, lựa chọn mô hình quản trị thích hợp và giảm thiểu rủi ro pháp lý tài sản.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên khối ngành Kinh tế: Đóng vai trò là tài liệu tham khảo học thuật giá trị về chuyên ngành Kinh tế chính trị, cung cấp phương pháp luận phân tích sở hữu tư nhân và chuỗi dữ liệu kinh tế vĩ mô giai đoạn chuyển đổi 1990 - 2007.
  • Tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại và quỹ đầu tư: Giúp các chuyên viên phân tích đánh giá chính xác đặc thù tài chính, tỷ lệ lãi lỗ bình quân và mức độ an toàn vốn của từng loại hình doanh nghiệp để thiết kế các gói sản phẩm tín dụng và dịch vụ bảo lãnh phù hợp.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luật Doanh nghiệp năm 1999 đã tạo ra bước đột phá nào cho số lượng doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam?
    Luật Doanh nghiệp 1999 chính thức xóa bỏ hàng trăm giấy phép con, bảo đảm quyền tự do kinh doanh theo pháp luật. Nhờ đó, số lượng doanh nghiệp thành lập mới giai đoạn 2001 - 2005 đạt bình quân 28.655 doanh nghiệp/năm, tăng gấp gần 6 lần so với giai đoạn 1991 - 1999, nâng tổng số doanh nghiệp hoạt động lên 88.646 đơn vị vào năm 2005.

  2. Vì sao Công ty trách nhiệm hữu hạn lại trở thành loại hình chiếm tỷ trọng cao nhất trong khu vực tư nhân?
    Công ty TNHH chiếm tới 49,66% tổng số doanh nghiệp hoạt động năm 2005 nhờ ưu thế vượt trội về chế độ trách nhiệm tài sản hữu hạn trong phạm vi vốn cam kết, cơ cấu quản lý linh hoạt, số lượng thành viên kiểm soát chặt chẽ (dưới 50 người), giúp nhà đầu tư giảm thiểu rủi ro cá nhân hơn so với Doanh nghiệp tư nhân.

  3. Đóng góp cụ thể của các loại hình doanh nghiệp tư nhân vào thị trường lao động giai đoạn 2000 - 2005 là gì?
    Khu vực này giải quyết khoảng 1 triệu việc làm mới mỗi năm cho toàn xã hội. Tính đến cuối năm 2004, các doanh nghiệp tư nhân thu hút 1.929.567 lao động chính thức, trong đó riêng Công ty TNHH đóng góp 1.189.713 lao động và Doanh nghiệp tư nhân thu hút 431.912 người, giải quyết hiệu quả lực lượng lao động dôi dư sau sắp xếp doanh nghiệp nhà nước.

  4. Hạn chế lớn nhất về năng lực tài chính của doanh nghiệp tư nhân Việt Nam giai đoạn nghiên cứu là gì?
    Hạn chế lớn nhất là quy mô vốn nhỏ và khả năng tích tụ vốn thấp. Đến năm 2005, có tới 52,59% Doanh nghiệp tư nhân có mức vốn dưới 0,5 tỷ đồng, nguồn vốn bình quân của Doanh nghiệp tư nhân chỉ đạt 2,2 tỷ đồng, Công ty TNHH đạt 6,0 tỷ đồng, thua kém rất nhiều so với mức 18 - 20 tỷ đồng của doanh nghiệp nhà nước.

  5. Bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc và Hungary có ý nghĩa gì đối với việc phát triển kinh tế tư nhân tại Việt Nam?
    Kinh nghiệm quốc tế chứng minh rằng việc tư nhân hóa minh bạch và áp dụng chiến lược "Nắm lớn, thả nhỏ" giúp giải phóng sức sản xuất xã hội. Tại Hungary, kinh tế tư nhân đóng góp tới 80% GDP sau cải cách, trong khi tại Trung Quốc, tỷ trọng công nghiệp tư nhân tăng vọt lên 40,1% năm 2001 nhờ chính sách đối xử bình đẳng và khuyến khích tích tụ vốn.

Kết luận

  • Luận văn khẳng định kinh tế tư nhân là động lực tăng trưởng quan trọng hàng đầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam với 88.646 doanh nghiệp hoạt động năm 2005.
  • Cơ cấu tổ chức kinh doanh ghi nhận bước chuyển mình lịch sử khi các loại hình doanh nghiệp hiện đại như Công ty TNHH và Công ty cổ phần chiếm lĩnh tới 67,3% thị phần đăng ký năm 2004.
  • Khu vực kinh tế tư nhân tạo ra gần 2 triệu việc làm chính thức năm 2004 và đóng góp trên 14,8% tổng thu ngân sách quốc gia năm 2001, góp phần đảm bảo an sinh xã hội.
  • Nghiên cứu chỉ rõ các điểm nghẽn nghiêm trọng về quy mô vốn tự có nhỏ bé (hơn 90% là SME), trình độ công nghệ hạn chế và sự phân bố bất hợp lý khi tập trung quá mức tại các đô thị lớn.
  • Hệ thống khuyến nghị đưa ra các giải pháp đột phá về hoàn thiện pháp lý, mở rộng hạn mức tín dụng ngân hàng, đẩy mạnh cổ phần hóa và chuẩn hóa năng lực điều hành của đội ngũ doanh nhân.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là hệ thống hóa khung lý luận Kinh tế chính trị và cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng chuyên sâu về quá trình vận động của các loại hình doanh nghiệp tư nhân Việt Nam giai đoạn 1990 - 2007. Trong các bước nghiên cứu tiếp theo từ năm 2008 đến năm 2015, các nhà khoa học cần tiếp tục theo dõi tác động của Luật Doanh nghiệp 2005 và các cam kết mở cửa thị trường khi Việt Nam gia nhập WTO. Độc giả, các nhà nghiên cứu và cộng đồng doanh nhân hãy khai thác triệt để các dữ liệu học thuật của luận văn để vận dụng vào thực tiễn quản trị và hoạch định chiến lược kinh doanh bền vững.