Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Các nhân tố ảnh hưởng, định hướng và giải pháp phát triển dịch vụ tư vấn marketing tại Việt Nam" do tác giả Bùi Thanh Tráng thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh năm 2009, thuộc chuyên ngành Thương mại, mã số 62.01, dưới sự hướng dẫn khoa học của Nguyễn Đông Phong và Ngô Thị Ngọc Huyền.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng trong cơ cấu kinh tế của các quốc gia phát triển, ngành dịch vụ chiếm từ 60% đến 70% tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Dịch vụ tư vấn marketing (DVTVM) là một bộ phận của nhóm dịch vụ phát triển kinh doanh (BDS), giữ vai trò hỗ trợ hoạt động kinh doanh, phát triển thương hiệu và nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp. Tại Việt Nam, DVTVM bắt đầu hình thành và phát triển từ năm 2000. So với các quốc gia trong khu vực như Thái Lan, Singapore hay Trung Quốc, lĩnh vực này ở Việt Nam còn hạn chế cả về số lượng doanh nghiệp và chất lượng dịch vụ. Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), nhu cầu thị trường gia tăng nhưng tồn tại sự mất cân đối giữa cung và cầu: nhận thức về marketing của doanh nghiệp chưa đi liền với đầu tư dài hạn; phía cung ứng chỉ có khoảng 2% doanh nghiệp được đánh giá là chuyên nghiệp trong tổng số hơn 3.000 doanh nghiệp hoạt động ở lĩnh vực này; các doanh nghiệp trong nước gặp khó khăn khi cạnh tranh với khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Cho đến thời điểm nghiên cứu, chưa có công trình nào khảo sát toàn diện, có tính hệ thống về thị trường DVTVM tại Việt Nam.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được văn bản xác định cụ thể qua 5 nội dung:

  1. Dựa trên cơ sở khoa học về các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ tư vấn marketing, bao gồm lý thuyết cung cầu, các mô hình phân tích nhân tố tác động đến xu hướng tiêu dùng và sự phát triển thị trường, để xây dựng mô hình phân tích các nhân tố tác động đến DVTVM tại Việt Nam.
  2. Nghiên cứu kinh nghiệm của các nước về phát triển dịch vụ tư vấn marketing, đứng ở góc độ doanh nghiệp cung ứng và vai trò của chính phủ để đúc kết thành công và hạn chế nhằm thúc đẩy sự phát triển ngành dịch vụ này.
  3. Nghiên cứu bối cảnh tác động đến DVTVM, quá trình hình thành và phát triển DVTVM tại Việt Nam. Kết hợp nghiên cứu khả năng cung ứng và nhu cầu sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp để xác định các nhân tố ảnh hưởng và mối tương quan của các nhân tố đến sự phát triển DVTVM tại Việt Nam.
  4. Sau khi đã xác định các nhân tố sẽ kiểm định nhân tố nào tác động chính (những nhân tố từ phía cung và cầu của DVTVM). Từ đó rút ra những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và đe dọa của dịch vụ này.
  5. Sau khi phân tích những nhân tố ảnh hưởng sẽ xây dựng định hướng và đề xuất các giải pháp kích cầu khuyến khích doanh nghiệp sử dụng, và giải pháp nâng cao số lượng và chất lượng cung, cùng với những kiến nghị đối với nhà nước, hiệp hội ngành nghề nhằm phát triển DVTVM tại Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án được giới hạn như sau:

  • Đối tượng nghiên cứu: Giới hạn ở hai nhóm đối tượng trực tiếp là doanh nghiệp cung ứng và doanh nghiệp sử dụng DVTVM (không khảo sát cá nhân, tổ chức chính phủ hay tổ chức phi chính phủ).
  • Phạm vi không gian: Điều tra, khảo sát thực tế tại hai trung tâm kinh tế lớn là Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, nơi tập trung trên 80% số lượng doanh nghiệp cung ứng DVTVM của cả nước.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu thứ cấp về kinh tế trong giai đoạn 1986–2007; số liệu thống kê về hiện trạng doanh nghiệp DVTVM dựa trên dữ liệu điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê từ năm 2000 đến năm 2006.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả điểm lại các công trình liên quan đến dịch vụ phát triển kinh doanh, dịch vụ tư vấn và quảng cáo tại Việt Nam:

  • Công trình "Dịch vụ phát triển kinh doanh ở Việt Nam" của Alexandra (2002), do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức (GTZ) và Swisscontact phối hợp thực hiện. Nghiên cứu khảo sát 14 dịch vụ kinh doanh chính tại 6 tỉnh, thành phố (Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương), cho thấy tốc độ tăng trưởng bình quân của nhóm dịch vụ marketing (quảng cáo, khuyến mãi, tổ chức sự kiện, thiết kế sản phẩm) giai đoạn 2000–2002 đạt khoảng 10%/năm, song chưa phân tích chi tiết cung cầu từng loại hình dịch vụ.
  • Công trình "Tư vấn sản xuất, kinh doanh dịch vụ - mô hình và giải pháp" của Tô Xuân Dân, Hàn Mạnh Tiến và Nguyễn Thành Công (2002). Đề tài làm rõ cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và thực trạng hoạt động tư vấn sản xuất kinh doanh tại Hà Nội, đề xuất mô hình quản lý nhà nước; nội dung dừng lại ở dịch vụ tư vấn nói chung, chưa đi vào phân ngành tư vấn marketing.
  • Báo cáo "Môi trường pháp lý cho dịch vụ phát triển kinh doanh tại Việt Nam" (The Legal Environment for Business Development Services in Vietnam) của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) và Công ty Vision & Associates (2003). Báo cáo tập trung vào sở hữu trí tuệ, kế toán - kiểm toán, đào tạo và phân tích tác động của Nghị định số 87/2002/NĐ-CP về hoạt động cung ứng và sử dụng dịch vụ tư vấn.
  • Công trình "Tư vấn Quản lý - Một loại hình dịch vụ kinh doanh mới phát triển trong lĩnh vực tư nhân tại Việt Nam" (Management Consulting: An emerging business service for the private sector in Vietnam) của Nguyễn Văn Lân và Nguyễn Phương Quỳnh Trang (2004). Nghiên cứu phác thảo các rào cản và khó khăn của doanh nghiệp tư vấn quản lý tư nhân (nhân lực, marketing, tài chính, kế toán), chưa đi sâu vào tình hình cung ứng và nhu cầu của DVTVM.
  • Đề tài nghiên cứu khoa học "Dịch vụ phát triển kinh doanh ở Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng & Giải pháp" (mã số CS-2004-23) của Nguyễn Đông Phong và Bùi Thanh Tráng (2004). Đề tài khảo sát diện rộng tình hình cung ứng các dịch vụ BDS và nhu cầu của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại TP.HCM, chưa phân tích chuyên sâu từng loại hình đơn lẻ.
  • Đề tài nghiên cứu khoa học "Hoạt động quảng cáo tại Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng & Giải pháp" (mã số CS-2005-57) của Bùi Thanh Tráng và Nguyễn Đông Phong (2006). Công trình đi sâu vào một phân mảng của dịch vụ marketing là quảng cáo, chỉ ra thực trạng phía cung còn hạn chế về năng lực chuyên môn và phía cầu có tần suất sử dụng thấp.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết là: Các tài liệu trước đây chỉ tiếp cận thị trường dịch vụ phát triển kinh doanh tổng thể hoặc khảo sát riêng lẻ mảng quảng cáo, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về DVTVM trên cả hai phương diện cung và cầu tại Việt Nam; đồng thời chưa có mô hình định lượng xác định và đo lường mức độ tác động của các nhân tố chi phối sự phát triển của thị trường này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên các lý thuyết và khái niệm kinh tế - quản trị:

  • Lý thuyết cung - cầu hàng hóa dịch vụ của Paul A. Samuelson và William D. Nordhaus (1989): Xác định quy luật tương quan giữa giá cả và khối lượng dịch vụ, cùng các biến số chi phối như thu nhập, quy mô thị trường, dịch vụ thay thế, sở thích, chi phí đầu vào và công nghệ.
  • Khái niệm marketing và phối thức marketing: Định nghĩa marketing của Philip Kotler (2003) và Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ (Bennett, 1995); mô hình Marketing-mix 4P của E. Jerome McCarthy (1960); mô hình 12 thành phần marketing hỗn hợp của Neil Borden (1964); mô hình 4C (Customer need, Cost, Convenience, Communication) của Bob Lauterborn (1990) tiếp cận từ góc độ khách hàng.
  • Khái niệm và bản chất dịch vụ tư vấn: Khái niệm dịch vụ theo Zeithaml & Bitner (1996); phân loại 155 phân ngành thuộc 12 nhóm dịch vụ của WTO (DVTVM thuộc phân nhóm dịch vụ kinh doanh); quan điểm tư vấn chức năng của Steele (1975) và quan điểm tư vấn nghề nghiệp/dịch vụ chuyên môn độc lập của Greiner & Metzger (1983) cùng Milan Kubr (1996). Luận án thống nhất tiếp cận DVTVM là một dịch vụ chuyên môn.
  • Đo lường chất lượng dịch vụ: Khung đánh giá chất lượng dịch vụ của Lehtinen & Lehtinen (1982), Christian Grönroos (1984 - chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng), và mô hình 5 khoảng cách chất lượng dịch vụ của Parasuraman, Zeithaml & Berry (1985).
  • Mô hình thị trường dịch vụ phát triển kinh doanh: Vận dụng mô hình của Field, Hitchin & Bear (2000) về mối liên hệ giữa các nhân tố cung (năng lực, khả năng đáp ứng) và cầu (nhận thức tầm quan trọng, khả năng chi trả) tác động đến xu hướng phát triển thị trường.

Về phương pháp nghiên cứu, đề tài kết hợp phương pháp duy vật biện chứng, quan điểm lịch sử, phương pháp chuyên gia, phương pháp phân tích thống kê mô tả, so sánh và tổng hợp kinh tế. Quy trình nghiên cứu thực nghiệm triển khai qua hai giai đoạn:

  1. Nghiên cứu sơ bộ (định tính): Thảo luận trực tiếp với chuyên gia tư vấn marketing, nhà quản lý doanh nghiệp cung ứng và nhà tư vấn độc lập để điều chỉnh, bổ sung các biến quan sát trong bảng câu hỏi và hiệu chỉnh thang đo.
  2. Nghiên cứu chính thức (định lượng): Khảo sát bằng bảng câu hỏi cấu trúc đối với hai nhóm doanh nghiệp tại TP.HCM và Hà Nội, xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS. Kỹ thuật phân tích bao gồm: Thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích tương quan Pearson và mô hình hồi quy tuyến tính bội.
Tiêu chí Khảo sát DN cung ứng DVTVM Khảo sát DN sử dụng DVTVM
Quy mô mẫu phát ra 150 doanh nghiệp (TP.HCM: 95; Hà Nội: 55) 300 doanh nghiệp (TP.HCM: 200; Hà Nội: 100)
Số mẫu bị loại 28 mẫu (do bỏ trống hoặc không có ý kiến) 41 mẫu (do bỏ trống thông tin)
Cỡ mẫu phân tích (n) n = 122 (tỷ lệ hồi đáp đạt khoảng 83%) n = 259 (tỷ lệ hồi đáp đạt khoảng 85%)
Cơ cấu địa phương TP.HCM: 69%; Hà Nội: 31% TP.HCM: 63%; Hà Nội: 37%
Cơ cấu theo hình thức sở hữu Ngoài nhà nước: 85%; FDI: 15% Ngoài nhà nước: 42%; FDI: 32%; Nhà nước: 26%

Nguồn tư liệu nghiên cứu:

  • Dữ liệu thứ cấp: Dữ liệu thống kê doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê (giai đoạn 2000–2006); số liệu kinh tế vĩ mô Việt Nam (1986–2007); tài liệu từ Hiệp hội Quảng cáo Việt Nam (VAA), Hội Marketing Việt Nam, CIEM, WB, IMF, ILO.
  • Dữ liệu sơ cấp: Thu thập qua khảo sát 122 doanh nghiệp cung ứng và 259 doanh nghiệp sử dụng DVTVM tại Hà Nội và TP.HCM.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở khoa học về phát triển dịch vụ tư vấn marketing

Chương này hệ thống hóa các vấn đề lý luận về DVTVM:

  • Khái niệm và bản chất: Xác định dịch vụ là sản phẩm phi vật thể, quá trình sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời. Dịch vụ tư vấn được định nghĩa là dịch vụ chuyên môn độc lập thực hiện trên cơ sở hợp đồng. Dịch vụ tư vấn marketing là dịch vụ độc lập cung cấp giải pháp chuyên môn về marketing ở hai cấp độ: Hoạch định chiến lược và tổ chức thực hiện các chương trình marketing.
  • Phân loại DVTVM: Luận án chia thành ba nhóm chính gồm: (1) Tư vấn xây dựng chiến lược marketing (phân tích môi trường vi mô, vĩ mô, phân khúc thị trường, định vị, phối thức 4P và 4C); (2) Tư vấn xây dựng và phát triển thương hiệu (nhận diện thương hiệu, định vị thương hiệu, truyền thông marketing tích hợp - IMC, quảng cáo, quan hệ công chúng, tổ chức sự kiện); (3) Tư vấn nghiên cứu thị trường (thiết kế dự án, thu thập và kiểm tra dữ liệu sơ cấp, thứ cấp, phân tích thái độ và hành vi người tiêu dùng).
  • Đặc điểm của DVTVM: Luận án phân tích 4 đặc tính cơ bản dựa trên các công trình của Zeithaml & Bitner (1996), Caruana & Pitt (1997), Parasuraman cùng cộng sự (1985): (1) Tính vô hình, không đồng nhất, sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời; (2) Chất lượng khó đánh giá hơn sản phẩm hữu hình (phụ thuộc vào 5 khoảng cách chất lượng dịch vụ); (3) Là dịch vụ chuyên môn đòi hỏi tính sáng tạo cao; (4) Mang tính độc lập về hành chính và tài chính giữa bên tư vấn và bên thuê tư vấn.
  • Vai trò và nguyên tắc phát triển: Ở tầm vĩ mô, DVTVM đóng góp vào tăng trưởng GDP và hỗ trợ xây dựng thương hiệu quốc gia. Ở tầm vi mô, giúp doanh nghiệp chuyên môn hóa sản xuất kinh doanh, tiết giảm chi phí, tiếp nhận dữ liệu nghiên cứu khách quan. Ba nguyên tắc phát triển thị trường được xác lập: Nhà nước tạo hành lang pháp lý và không trực tiếp cung ứng dịch vụ thương mại để tránh xung đột lợi ích; tiến hành đánh giá thị trường định kỳ; đảm bảo môi trường cạnh tranh bình đẳng và phát triển bền vững.
  • Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế: Luận án tổng hợp kinh nghiệm phát triển DVTVM tại các quốc gia trong khu vực châu Á có điều kiện tương đồng, rút ra bài học về vai trò kiến tạo của chính phủ và năng lực thích ứng của doanh nghiệp cung ứng.

Chương 2: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ tư vấn marketing tại Việt Nam

Chương hai tập trung phân tích thực trạng môi trường kinh tế, pháp lý và dữ liệu khảo sát:

  • Môi trường kinh tế và pháp luật: Đánh giá tác động của tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1986–2007; phân tích chỉ số môi trường kinh doanh qua Bảng 2.1 (Xếp hạng mức độ dễ dàng trong kinh doanh của Việt Nam); rà soát khung pháp lý như Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại và Nghị định 87/2002/NĐ-CP.
  • Phân tích phía cung ứng (dữ liệu Tổng cục Thống kê và khảo sát 122 DN cung ứng):
    • Phân bố và quy mô: Doanh nghiệp cung ứng tập trung hơn 80% tại Hà Nội và TP.HCM (Bảng 2.7). Khối doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm đa số tuyệt đối (Bảng 2.3, 2.4). Đa phần doanh nghiệp có quy mô vốn nhỏ và vừa (Bảng 2.5), quy mô lao động thấp (Bảng 2.6), và số năm hoạt động còn non trẻ (Bảng 2.10).
    • Doanh thu và nhân lực: Doanh thu của ngành tập trung chủ yếu tại địa bàn TP.HCM (Bảng 2.8, 2.9); số lượng chuyên viên tư vấn chuyên trách trong các doanh nghiệp còn hạn chế (Bảng 2.11).
    • Hoạt động thị trường: Khối DN-FDI nắm giữ thị phần áp đảo ở phân khúc ngân sách lớn (Biểu đồ 2.1); loại hình dịch vụ cung cấp chủ yếu là quảng cáo, khuyến mại, tổ chức sự kiện; mảng tư vấn chiến lược và nghiên cứu thị trường chiếm tỷ trọng thấp (Biểu đồ 2.3); phương thức tiếp cận khách hàng dựa nhiều vào quan hệ cá nhân (Biểu đồ 2.4); khó khăn lớn nhất là cạnh tranh không lành mạnh và thiếu hụt nhân sự có kỹ năng chuyên sâu (Biểu đồ 2.2).
  • Phân tích phía sử dụng dịch vụ (khảo sát 259 DN sử dụng):
    • Nhu cầu và hành vi: Phần lớn doanh nghiệp chỉ sử dụng dịch vụ theo từng vụ việc ngắn hạn khi phát sinh khó khăn, thiếu kế hoạch marketing dài hạn (Biểu đồ 2.5, 2.6).
    • Rào cản sử dụng: Lý do doanh nghiệp ít thuê ngoài DVTVM xuất phát từ tâm lý e ngại tiết lộ bí mật kinh doanh, năng lực của bên tư vấn chưa tạo được sự tin cậy, và chi phí cảm nhận chưa tương xứng với lợi ích mang lại (Biểu đồ 2.7).
    • Kênh thông tin và mức độ hài lòng: Kênh tìm kiếm nhà tư vấn chủ yếu là qua người quen và đối tác giới thiệu (Biểu đồ 2.8); mức độ hài lòng về chất lượng DVTVM trong nước ở mức trung bình (Biểu đồ 2.9).
  • Kết quả kiểm định mô hình định lượng:
    • Bảng 2.12 kiểm định hệ số Cronbach's Alpha cho thấy các thang đo nhân tố nghiên cứu đạt độ tin cậy.
    • Bảng 2.13 trình bày kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA tổng hợp, nhóm các biến quan sát thành các thành phần giải thích.
    • Bảng 2.14 thể hiện ma trận hệ số tương quan giữa các biến; Bảng 2.15 kiểm định các giả thuyết về mối liên hệ giữa các nhân tố; Bảng 2.16 trình bày kết quả phân tích mô hình hồi quy tuyến tính, xác định mức độ tác động của các nhân tố thuộc phía cung (năng lực nhà cung ứng, tính chuyên nghiệp, chất lượng dịch vụ), phía cầu (nhận thức về marketing, khả năng tài chính/chi trả, chi phí cảm nhận) và môi trường hỗ trợ đối với xu hướng phát triển thị trường DVTVM.
  • Phân tích SWOT: Tổng hợp điểm mạnh (am hiểu thị trường nội địa, chi phí cạnh tranh), điểm yếu (quy mô vốn nhỏ, thiếu hụt chuyên gia giỏi, kinh nghiệm quản trị thấp), cơ hội (hội nhập kinh tế quốc tế, nhu cầu xây dựng thương hiệu tăng) và thách thức (áp lực cạnh tranh trực tiếp từ các tập đoàn tư vấn nước ngoài).

Chương 3: Định hướng và các giải pháp phát triển dịch vụ tư vấn marketing tại Việt Nam

Dựa trên kết quả nghiên cứu định tính và định lượng, chương ba đề xuất các định hướng và giải pháp:

  • Cơ sở và nguyên tắc: Xuất phát từ bối cảnh hội nhập WTO, quy luật cung - cầu, kinh nghiệm quốc tế và kết quả mô hình thực nghiệm; xác định phát triển thị trường phải đồng bộ cả cung và cầu, lấy hiệu quả hỗ trợ doanh nghiệp làm trọng tâm.
  • Định hướng chiến lược: Phát triển DVTVM tại Việt Nam theo hướng chuyên nghiệp hóa, đa dạng hóa loại hình dịch vụ, chuẩn hóa chất lượng theo tiêu chuẩn khu vực, nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp tư vấn trong nước.
  • Hệ thống giải pháp cụ thể:
    • Nhóm giải pháp kích cầu: Tăng cường truyền thông giúp doanh nghiệp hiểu rõ bản chất hoạt động marketing là đầu tư dài hạn mang lại giá trị gia tăng, không phải là khoản chi phí đối phó ngắn hạn; triển khai các chương trình trợ giúp kỹ thuật để doanh nghiệp tiếp cận thông tin về nhà cung ứng uy tín; hỗ trợ một phần kinh phí tư vấn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ qua các quỹ phát triển; giải tỏa tâm lý e ngại về bảo mật thông tin kinh doanh bằng các cam kết pháp lý.
    • Nhóm giải pháp nâng cao số lượng và chất lượng cung: Nâng cao năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ chuyên viên tư vấn; chuẩn hóa quy trình cung ứng dịch vụ từ khâu tiếp nhận thông tin, thiết kế giải pháp đến chuyển giao và theo dõi thực hiện; tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp tư vấn trong nước để nâng cao quy mô vốn và uy tín thương hiệu; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong thu thập, xử lý cơ sở dữ liệu thị trường; xây dựng bảng giá dịch vụ minh bạch, tương xứng với chất lượng cam kết.
    • Kiến nghị đối với Nhà nước: Hoàn thiện hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động tư vấn, cụ thể hóa các chế tài thực thi Nghị định 87/2002/NĐ-CP; tăng cường bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và bí mật kinh doanh; ban hành chính sách ưu đãi về thuế và không gian làm việc cho các doanh nghiệp dịch vụ tri thức; kiên định vai trò kiến tạo, hỗ trợ xúc tiến thương mại quốc gia, không lập ra các đơn vị nhà nước trực tiếp cung ứng dịch vụ thương mại cạnh tranh với thị trường.
    • Kiến nghị đối với các hiệp hội ngành nghề (Hội Marketing Việt Nam, Hiệp hội Quảng cáo Việt Nam): Phát huy vai trò cầu nối thông tin giữa bên cung và bên cầu; tổ chức các chương trình đào tạo nghiệp vụ chuyên sâu và cấp chứng chỉ hành nghề tư vấn; ban hành bộ quy tắc đạo đức ứng xử nghề nghiệp; tạo lập mạng lưới kết nối giữa các chuyên gia, viện nghiên cứu và cộng đồng doanh nghiệp.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới trên hai phương diện lý luận và thực tiễn:

  • Đóng góp về mặt lý luận:
    • Làm rõ bản chất, đặc điểm chuyên môn độc lập của dịch vụ tư vấn marketing, phân định rõ hai cấp độ tư vấn là hoạch định chiến lược và thực hiện các chương trình marketing tác nghiệp.
    • Vận dụng lý thuyết cung - cầu của Paul A. Samuelson và William D. Nordhaus (1989) kết hợp mô hình thị trường của Field, Hitchin & Bear (2000) để xây dựng mô hình phân tích định lượng xác định mối tương quan giữa các nhân tố chi phối sự phát triển thị trường DVTVM tại một quốc gia đang phát triển.
    • Tổng hợp, đúc kết các bài học kinh nghiệm quốc tế về việc tách bạch vai trò quản lý nhà nước với vai trò cung ứng dịch vụ thương mại, làm cơ sở lý luận cho việc hoạch định chính sách phát triển ngành dịch vụ tri thức.
  • Đóng góp về mặt thực tiễn:
    • Phác họa bức tranh toàn diện về hiện trạng thị trường DVTVM tại Việt Nam trong giai đoạn 2000–2006, lượng hóa các đặc điểm về cơ cấu sở hữu, quy mô vốn, quy mô lao động, doanh thu và năng lực nhân sự của các doanh nghiệp cung ứng tại hai đô thị lớn.
    • Xây dựng và kiểm định hệ thống thang đo đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến DVTVM; thông qua phân tích EFA và mô hình hồi quy tuyến tính, luận án lượng hóa được mức độ tác động cụ thể của từng biến số từ phía cung và phía cầu đối với sự phát triển của dịch vụ này.
    • Đề xuất hệ thống giải pháp phân định theo hai nhánh can thiệp rõ ràng: Nhóm giải pháp kích cầu (tập trung chuyển đổi nhận thức doanh nghiệp và bảo mật thông tin) và nhóm giải pháp nâng cao cung (chuẩn hóa quy trình, đào tạo nhân lực, liên kết doanh nghiệp); đồng thời đưa ra các kiến nghị chính sách cụ thể cho Nhà nước và hiệp hội nghề nghiệp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Căn cứ vào phạm vi nghiên cứu và nội dung văn bản, các hạn chế và hướng phát triển của đề tài bao gồm:

  • Về đối tượng khảo sát: Luận án chỉ giới hạn thu thập số liệu sơ cấp từ hai chủ thể là doanh nghiệp cung ứng và doanh nghiệp sử dụng dịch vụ; chưa khảo sát các cá nhân hành nghề độc lập, các tổ chức phi chính phủ, các cơ quan hành chính sự nghiệp hay các tổ chức quốc tế có sử dụng dịch vụ tư vấn.
  • Về phạm vi không gian: Dữ liệu điều tra sơ cấp chỉ tập trung tại hai địa bàn là TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội. Mặc dù hai địa phương này chiếm trên 80% số lượng doanh nghiệp của cả nước, nhưng kết quả chưa bao quát đầy đủ đặc thù hoạt động và nhu cầu DVTVM tại các vùng kinh tế trọng điểm khác.
  • Về phạm vi thời gian: Chuỗi số liệu điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê dừng lại ở mốc năm 2006; các biến động kinh tế vĩ mô quốc tế giai đoạn sau năm 2008 chưa được phản ánh trong tập dữ liệu thứ cấp này.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng địa bàn khảo sát sang các trung tâm công nghiệp và du lịch đang phát triển; nghiên cứu tác động của các công cụ tiếp thị trực tuyến và internet marketing đến cấu trúc cung ứng DVTVM; mở rộng mô hình nghiên cứu sang các đối tượng khách hàng phi doanh nghiệp.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo cho các nhóm đối tượng học thuật và thực tiễn:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Thương mại, Quản trị Kinh doanh, Marketing: Tài liệu hữu ích khi tìm hiểu khung lý thuyết về kinh tế dịch vụ, dịch vụ phát triển kinh doanh (BDS) và mô hình phối hợp giữa lý thuyết cung cầu với các mô hình marketing chuyên sâu (McCarthy, Borden, Lauterborn, Parasuraman). Quy trình thiết kế thang đo, kiểm định EFA và hồi quy tuyến tính trong Chương 2 cung cấp phương pháp mẫu cho các nghiên cứu định lượng thị trường dịch vụ.
  • Nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước: Các phân tích tại Chương 2 và kiến nghị tại Chương 3 cung cấp cơ sở thực chứng để đánh giá tác động của khung pháp luật (đặc biệt là Nghị định 87/2002/NĐ-CP); định hình rõ ranh giới can thiệp của chính phủ theo hướng kiến tạo môi trường, xúc tiến hỗ trợ, tránh can thiệp hành chính làm méo mó cơ chế thị trường.
  • Doanh nghiệp cung ứng và sử dụng DVTVM: Giúp các doanh nghiệp tư vấn nhận diện điểm yếu nội tại về chất lượng chuyên viên và quy trình dịch vụ để nâng cao năng lực cạnh tranh trước sức ép từ khối FDI; đồng thời cung cấp luận cứ cho các doanh nghiệp khách hàng đánh giá hiệu quả của việc thuê ngoài dịch vụ marketing chuyên nghiệp nhằm tối ưu hóa chi phí sản xuất kinh doanh.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát mẫu nghiên cứu thực nghiệm với quy mô và cơ cấu như thế nào?
Luận án tiến hành khảo sát hai nhóm mẫu tại TP.HCM và Hà Nội:

  • Nhóm doanh nghiệp cung ứng: Phát ra 150 bảng câu hỏi, thu về n = 122 mẫu hợp lệ (tỷ lệ 83%). Trong đó, TP.HCM chiếm 69%, Hà Nội chiếm 31%; phân theo sở hữu gồm 85% doanh nghiệp ngoài nhà nước và 15% doanh nghiệp FDI (không khảo sát doanh nghiệp nhà nước do tỷ lệ tham gia thị trường không đáng kể).
  • Nhóm doanh nghiệp sử dụng: Phát ra 300 bảng câu hỏi, thu về n = 259 mẫu hợp lệ (tỷ lệ 85%). Trong đó, TP.HCM chiếm 63%, Hà Nội chiếm 37%; phân theo sở hữu gồm 42% doanh nghiệp ngoài nhà nước, 32% doanh nghiệp FDI và 26% doanh nghiệp nhà nước.

2. Điểm khác biệt căn bản giữa hai quan điểm tiếp cận về dịch vụ tư vấn được tác giả tổng hợp là gì?

  • Quan điểm thứ nhất (nghĩa rộng, trường phái chức năng): Theo Steele (1975), tư vấn là bất kỳ hình thức cung cấp lời khuyên hoặc phương pháp giải quyết vấn đề mà người tư vấn không chịu trách nhiệm thực hiện trực tiếp công việc đó; áp dụng cho cả tư vấn nội bộ và cá nhân.
  • Quan điểm thứ hai (nghĩa hẹp, dịch vụ chuyên môn): Theo Greiner & Metzger (1983) và Milan Kubr (1996), tư vấn là một nghề nghiệp chuyên môn độc lập được cung cấp trên cơ sở hợp đồng dịch vụ cụ thể, có sự ràng buộc rõ ràng về quyền lợi và trách nhiệm pháp lý giữa bên cung cấp và bên tiếp nhận. Luận án lựa chọn tiếp cận DVTVM theo quan điểm thứ hai.

3. Dữ liệu khảo sát chỉ ra những lý do chính nào khiến các doanh nghiệp Việt Nam còn ít sử dụng DVTVM?
Theo kết quả khảo sát trình bày tại Biểu đồ 2.7, các rào cản chính bao gồm: Tâm lý doanh nghiệp lo ngại bị lộ bí mật kinh doanh khi thuê đối tác bên ngoài; nhận thức về vai trò của marketing còn mang tính đối phó ngắn hạn; thiếu niềm tin vào năng lực thực tế của các đơn vị tư vấn trong nước; chi phí dịch vụ cảm nhận còn cao so với kết quả kinh doanh thu được sau khi triển khai.

4. Luận án sử dụng những công cụ và kỹ thuật định lượng nào để xử lý dữ liệu khảo sát?
Dữ liệu khảo sát được xử lý bằng phần mềm SPSS. Tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả để phân tích cơ cấu mẫu; đánh giá độ tin cậy của các thang đo thành phần bằng hệ số Cronbach's Alpha (Bảng 2.12); thực hiện phân tích nhân tố khám phá EFA tổng hợp (Bảng 2.13) để gom nhóm biến; phân tích ma trận hệ số tương quan Pearson (Bảng 2.14); và phân tích mô hình hồi quy tuyến tính bội (Bảng 2.16) để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu về mức độ tác động của các nhân tố phía cung và phía cầu.

5. Vì sao luận án kiến nghị Nhà nước không nên trực tiếp tham gia cung ứng dịch vụ tư vấn marketing?
Tác giả lập luận rằng nếu một cơ quan hay tổ chức của Nhà nước vừa giữ vai trò định hướng, hỗ trợ, xúc tiến lại vừa trực tiếp cung cấp dịch vụ thương mại thì sẽ tạo ra xung đột lợi ích đối với các doanh nghiệp tư vấn trên thị trường. Các chương trình hỗ trợ khi kết hợp với mục tiêu kinh doanh dễ dẫn tới kém hiệu quả và phân bổ ngân sách lãng phí. Do đó, Nhà nước cần tách biệt vai trò quản lý xúc tiến với hoạt động cung ứng thương mại, chỉ tập trung hoàn thiện khung pháp lý và tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch.

Kết luận

Luận án của tác giả Bùi Thanh Tráng là công trình chuyên khảo có hệ thống về thị trường dịch vụ tư vấn marketing tại Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi và hội nhập kinh tế quốc tế. Bằng việc kết hợp lý thuyết cung - cầu với khảo sát thực nghiệm trên hai nhóm doanh nghiệp cung ứng và sử dụng tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, luận án đã làm rõ cấu trúc thực trạng và kiểm định mô hình định lượng các nhân tố tác động đến sự phát triển của dịch vụ này. Các giải pháp kích cầu, nâng cao năng lực cung ứng cùng hệ thống kiến nghị chính sách được đề xuất là tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu học thuật, quản trị doanh nghiệp và hoạch định chính sách phát triển ngành dịch vụ kinh doanh tại Việt Nam.