Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ thẻ TD tại NHTM. Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ thẻ TD tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam. Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ thẻ TD tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam. 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Những vấn đề cơ bản về dịch vụ thẻ TD tại ngân hàng thƣơng mại 1. Tổng quan dịch vụ thẻ TD Theo Thông tư 19 /2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 6 năm 2016 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động thẻ ngân hàng, thẻ TD (credit card) là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ (Điều 3 Thông tư 19/2016/TT-NHNN). Trong khái niệm đó, một số thuật ngữ được làm rõ như sau: “Thẻ hay còn gọi là thẻ ngân hàng, là phương tiện thanh toán do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thỏa thuận”. Thẻ TD là một loại thẻ ngân hàng, bên cạnh các loại thẻ khác như thẻ ghi nợ, thẻ trả trước.
“Tổ chức phát hành thẻ là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước được thực hiện phát hành thẻ, bao gồm: ngân hàng thương mại, ngân hàng hợp tác xã, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phát hành thẻ khi hoạt động cung ứng dịch vụ thẻ được ghi trong Giấy phép hoặc Giấy phép bổ sung, sửa đổi (nếu có) do Ngân hàng nhà nước cấp; Ngân hàng chính sách phát hành thẻ theo quy định của Chính phủ và Thủ tướng chính phủ; Công ty tài chính chỉ được phát hành thẻ TD sau khi được Ngân hàng nhà nước chấp thuận. Công ty tài chính bao thanh toán không được phát hành thẻ; Tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối được ký kết văn bản thỏa thuận với Tổ chức thẻ quốc tế để phát hành thẻ có BIN do Tổ chức thẻ quốc tế cấp”. Như vậy, chỉ các tổ chức tín dụng được Ngân hàng nhà nước cho phép mới có thể phát hành thẻ TD. 8 Thẻ TD được thực hiện các giao dịch thẻ gồm: thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ, hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam, bao gồm cả trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ ở nước ngoài; nạp, rút tiền mặt theo thỏa thuận giữa chủ thẻ với Tổ chức phát hành thẻ.
Các giao dịch thẻ được thực hiện tại các điểm chấp nhận thẻ bao gồm: các cửa hàng chấp nhận thẻ thông qua thiết bị POS, các website và các ứng dụng cung cấp hàng hóa dịch vụ chấp nhận thanh toán thẻ thông qua hình thức nhập thông tin thẻ hoặc liên kết thẻ tại các website, ứng dụng đó. Việc nạp, rút tiền mặt chỉ được thực hiện tại các thiết bị của ngân hàng gồm máy ATM, thiết bị POS tại quầy giao dịch ngân hàng; tại một số ít trường hợp đơn vị chấp nhận thẻ có uy tín lớn được NHNN cấp phép (như khách sạn 5 sao hoặc một số gian hàng đặc biệt tại sân bay…). Các giao dịch bằng thẻ TD được thực hiện trong phạm vi hạn mức tín dụng mà tổ chức phát hành thẻ, thường là các ngân hàng cấp cho chủ thẻ. Hạn mức tín dụng thẻ được hiểu là khoản tiền hoặc cam kết của ngân hàng cho phép chủ thẻ sử dụng khoản tiền thông qua việc thực hiện các giao dịch thẻ và hoàn trả lại cho ngân hàng sau đó.
Như vậy, sau khi được cấp hạn mức tín dụng, chủ thẻ sử dụng thẻ để mua hàng hóa dịch vụ, Ngân hàng sẽ thay mặt chủ thẻ trả tiền cho người bán hàng hóa dịch vụ, giảm trừ hạn mức tín dụng đã cấp cho chủ thẻ và ghi nhận lại trên tài khoản thẻ TD của chủ thẻ tại ngân hàng, tạo thành khoản cấp tín dụng thẻ. Định kỳ (thường là hàng tháng), vào một ngày cố định gọi là ngày sao kê, Ngân hàng gửi bản sao kê liệt kê toàn bộ các khoản chi tiêu của chủ thẻ trong kỳ đó, gửi tới chủ thẻ cùng với thông báo về tổng số tiền khách hàng đã sử dụng, số tiền tối thiểu cần trả và thời gian cần thanh toán cho ngân hàng. Số tiền tối thiểu cần trả cho ngân hàng là một tỷ lệ phần trăm nhất định của tổng số tiền khách hàng đã sử dụng (thường từ 2% đến 10%). Chủ thẻ có thể thanh toán toàn bộ số tiền đã sử dụng hoặc chỉ 9 thanh toán số tiền tối thiểu trên bản sao kê hoặc số tiền bất kỳ nằm giữa hai khoản này.
Khi dư nợ được thanh toán, hạn mức tín dụng thẻ được hoàn lại bằng đúng số tiền thanh toán dư nợ. Khi chủ thẻ không thanh toán đúng thời hạn hoặc thanh toán số tiền nhỏ hơn số tiền thanh toán tối thiểu được thông báo, khoản tín dụng cấp cho chủ thẻ được coi là quá hạn. Khi đó, dư nợ quá hạn được tính phí phạt chậm thanh toán, đồng thời, khoản cấp tín dụng thẻ được xếp loại vào nhóm nợ quá hạn theo quy định của ngân hàng. Khi chủ thẻ thanh toán toàn bộ số tiền đã sử dụng trong kỳ đúng hạn, toàn bộ dư nợ được miễn lãi toàn bộ.
Thẻ TD được phân biệt theo các loại như sau: Theo phạm vi sử dụng, thẻ TD bao gồm: Thẻ TD nội địa: là loại thẻ có phạm vi sử dụng trong một quốc gia, mang thương hiệu của TCPHT và công ty chuyển mạch thẻ hoặc tổ chức thẻ của quốc gia đó. Một số trường hợp, thẻ có thể sử dụng tại một vài quốc gia khác có mà TCPHT hoặc công ty chuyển mạch thẻ có liên kết trực tiếp. Đồng tiền của thẻ chỉ duy nhất là đồng nội tệ Thẻ TD quốc tế: là loại thẻ có phạm vi sử dụng phổ biến ở các đơn vị chấp nhận trên toàn thế giới, mang thương hiệu của TCPHT và Tổ chức thẻ quốc tế. Đồng tiền của thẻ có thể là đồng nội tệ hoặc ngoại tệ tùy theo quy định của mỗi quốc gia và thỏa thuận giữa TCPHT và Tổ chức thẻ quốc tế.
Theo đối tượng sử dụng, thẻ TD được phân loại thành hai (02) loại: Thẻ cá nhân: là thẻ được phát hành cho các cá nhân có nhu cầu và đáp ứng đủ các điều kiện phát hành thẻ của TCPHT. Chủ thẻ chịu trách nhiệm thanh toán các khoản chi tiêu thẻ bằng nguồn tiền của bản thân mình. Thẻ chính do cá nhân đứng tên đề nghị và ký kết hợp đồng phát hành thẻ với TCPHT cho chính mình sử dụng, cá nhân đó là chủ thẻ chính. Chủ thẻ chính có thể đề nghị TCPHT phát hành thẻ cho cá nhân khác sử dụng thẻ phụ, cá nhân đó là chủ thẻ phụ.
Chủ 10 thẻ chính và chủ thẻ phụ đều có trách nhiệm sử dụng thẻ theo hợp đồng đã ký kết giữa TCPHT và chủ thẻ chính. Chủ thẻ chính được thông báo toàn bộ giao dịch thanh toán của chủ thẻ chính và chủ thẻ phụ, chịu trách nhiệm thanh toán cho TCPHT toàn bộ chi tiêu của chủ thẻ phụ. Thẻ công ty: là loại thẻ TD được phát hành cho các tổ chức sử dụng thẻ vào hoạt động mua sắm hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho hoạt động của tổ chức. Tổ chức là đơn vị đề nghị và ký kết hợp đồng phát hành thẻ TD với TCPHT, trong đó, tổ chức ủy quyền cho các cá nhân trong tổ chức sử dụng thẻ.
Tổ chức chịu trách nhiệm thanh toán đối với toàn bộ các giao dịch phát sinh từ thẻ TD. Theo hạng thẻ, thẻ TD thường được phân loại từ thấp đến cao gồm: thẻ hạng chuẩn (standard), thẻ hạng vàng (Gold), thẻ bạch kim (Platinum), thẻ cao cấp (Signature), thẻ siêu cao cấp (Infinite/Ultimate). Tùy theo TCPHT, việc phân biệt từ thấp đến cao theo các tiêu chí như: hạn mức cấp cho khách hàng, các ưu đãi riêng có của các hạng thẻ, mức phí áp dụng cho các hạng thẻ. Theo hình thái thể hiện, thẻ TD được phân thành hai (02) loại: thẻ vật lý và phi vật lý.
Thẻ TD vật lý là loại thẻ được in thành vật có thể sờ, cầm, nắm được. Thẻ vật lý được in với nhiều chất liệu, phổ biến nhất là thẻ nhựa với các thiết kế đẹp mắt, đặc trưng, một số TCPHT có sử dụng chất liệu kim loại cho một số loại thẻ cao cấp. Thẻ vật lý được phân biệt theo công nghệ sản xuất gồm: thẻ từ - là loại thẻ có chứa các thông tin thẻ tại băng từ đằng sau mặt thẻ. Kỹ thuật này được sử dụng phổ biến trên thế giới trong hơn 20 năm qua, đến nay đã trở nên lỗi thời do thông tin trên dải băng từ dễ dàng bị đánh cắp dữ liệu và làm giả thẻ.
Hiện nay, hầu hết các thẻ TD được phát hành là loại thẻ chip. Ngoài băng từ được in đằng sau, tấm thẻ được gắn chip thông minh trên bề mặt thẻ. Con chip này lưu trữ thông tin thẻ, đồng thời có khả năng sinh ra mã hóa duy nhất cho từng lần sử dụng thẻ, được truyền 11 nhận về TCPHT để cấp phép cho giao dịch. Nhờ vậy, thẻ có tính bảo mật cao hơn, khó sao chép và làm giả.
Theo thời gian, con chip tiếp tục được nâng cấp về công nghệ, chưa đựng cả “bộ thu phát sóng” giúp thẻ có tính năng thanh toán phi tiếp xúc (contactless) tới các thiết bị đọc thẻ, chủ thẻ chỉ cần chạm thẻ vào thiết bị đọc thẻ thay vì phải cắm hẳn con chip vào thiết bị, giúp người dùng giảm thiểu thời gian giao dịch cũng như rủi ro khi đưa thẻ cho nhân viên bán hàng. Thẻ phi vật lý là loại thẻ không được in thành tấm thẻ vật lý mà chủ thẻ được cung cấp thông tin về hình ảnh thẻ với số thẻ, ngày phát hành, ngày hết hạn, số CVV trên thẻ. Thẻ phi vật lý được phổ biến khi các ứng dụng (apps) của ngân hàng được cung cấp tới từng khách hàng. Chủ thẻ sử dụng thông tin thẻ được cung cấp trên apps để mua bán hàng hóa thông qua các website hoặc apps bán hàng trực tuyến, hoặc liên kết với các ví điện tử để thực hiện các giao dịch.
Khác với loại thẻ khác như thẻ ghi nợ thường được mở dễ dàng khi khách hàng có tài khoản thanh toán tại ngân hàng, thẻ TD cần nhiều thời gian hơn và trải qua nhiều bước để được phát hành. Quy trình để phát hành thành công thẻ TD cơ bản gồm các bước như sau: Bước 1: Khách hàng gửi bản đề nghị phát hành thẻ TD kèm cùng giấy tờ chứng minh về nhân thân và khả năng tài chính tới ngân hàng.