CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE DỊCH VỤ THẺ THANH TOÁN QUOC TE 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của dịch vụ thẻ thanh toán 1. Khái niệm Hiện nay có nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm thẻ thanh toán: Thẻ thanh toán là một phương tiện dùng đề thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ mà không dùng tiền mặt hoặc có thé được dùng dé rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý hoặc các máy rút tiền tự động. Theo Điều 24, quyết định số 22/QĐÐ-NHI về thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt do NHNN ban hành, thẻ là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt do ngân hàng phát hành và bán cho khách hang sử dụng dé trả tiền hàng hoá dịch vụ, các khoản thanh toán khác và rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lí thanh toán hay các máy rút tiền tự động ATM.
Theo quy trình nghiệp vụ thẻ do Vietcombank ban hành, thẻ là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành dé thực hiện giao dich thẻ theo điều kiện và điều khoản được các bên thỏa thuận. Thẻ thanh toán quốc tế là thẻ mang thương hiệu của các tổ chức thẻ quốc tế do các ngân hàng, tô chức tin dụng làm đại ly phát hành. Thẻ quốc tế có thé được sử dụng trên phạm vi trong nước và quốc tế, tại bất kỳ các DVCNT hoặc máy ATM có mang biểu tượng chấp nhận thanh toán thẻ đó. Như vậy, mỗi khái niệm có một cách diễn đạt khác nhau nhưng nói chung thẻ là một phương tiện thanh toán được lưu hành và sử dụng trong nước và trên phạm vi toàn cầu tuỳ thuộc vào từng loại thẻ nội địa hay quốc tế.
Thẻ được sử dụng dé thanh toán hàng hoá, dịch vụ tại các ĐVCNT hoặc rút tiền mặt tại các ĐƯTM. Thẻ ra đời và phát triển gắn liền với việc ứng dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Ngoài ra, thẻ còn được sử dụng dé tiép nhận một số dich vu khác do tổ chức phát hành thẻ cung ứng thông qua các thiết bị chuyên dụng. Phân loại thẻ thanh toán Thẻ thanh toán rất đa dạng và phong phú, để phân loại thẻ có thể dựa trên nhiêu tiêu thức, và việc phân loại chỉ mang tính tương đôi.
——> Thẻ ghi nợ Tính chât Thẻ trả trước The tín dung 'Thẻ ngân hang Chủ thé phát hành hát hành ; phat aan Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành Thẻ khắc chữ nồi : ; Cong nghé —_ The thanh toán —| sản xuất Thẻ băng từ Thẻ chip Thẻ và Hạn mức evans tin dung The thường Pham vi Thẻ nội dia sử dụng » kg ——> _ Thẻ quôc tê Hình 1.1: Phân loại thẻ thanh toán Theo tính chất thanh toán của thẻ - Thẻ ghi nợ - Debit Card Thẻ ghi nợ là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt. Nó cho phép khách hàng tiếp cận với số du tài khoản của mình qua hệ thống kết nối trực tuyến dé thanh toán hàng hoá dịch vụ tại các DVCNT hoặc thực hiện các giao dịch liên quan tới tài khoản tại các máy ATM. Mức chỉ tiêu của chủ thẻ phụ thuộc chủ yếu vào số dư trong tài khoản. Ngân hàng giữ vai trò cung cấp dịch vụ cho chủ thẻ và thu phí dịch vụ.
10 Thẻ ATM là hình thức phát triển đầu tiên của thẻ ghi nợ, cho phép khách hàng có thẻ tiếp cận trực tiếp tới tài khoản tại ngân hàng từ máy rút tiền tự động. Chủ thẻ có thể thực hiện nhiều giao dịch khác nhau tại máy ATM bao gồm: rút tiền, chuyển khoản, xem số dư tài khoản, in sao kê, xem các thông tin quảng cáo. Cùng với thẻ ATM, hệ thống ATM đã cung cấp cho khách hàng sử dụng thẻ khả năng giao dịch ngoài gid làm việc, ngoai tru sở ngân hang và khả năng tự phục vụ. - Thẻ tín dụng - Credit Card Thẻ tín dụng: là loại thẻ cho phép chủ thẻ sử dụng thẻ trong hạn mức tín dụng tuần hoàn được ngân hàng cấp và chủ thẻ phải thanh toán cho ngân hàng toàn bộ các khoản dư nợ phát sinh theo quy định.
Thẻ tín dụng là phương thức thanh toán không dùng tiền mặt cung cấp cho người sử dụng khả năng chỉ tiêu trước trả tiền sau. Tại thời điểm khách hàng thanh toán hàng hóa dịch vụ ngân hàng đứng ra tạm ứng thanh toán cho đơn vị cung cấp hàng hoá dich vụ và sau đó tiến hành thu hồi khoản tiền này từ khách hàng sau một khoảng thời gian nhất định theo thoả thuận giữa ngân hàng và chủ thẻ. Khoảng thời gian ké từ khi thẻ đuợc dùng dé thanh toán hàng hoá dịch vụ tới lúc chủ thẻ phải trả tiền cho ngân hang có độ dai tuỳ thuộc vào từng loại thẻ tin dung của từng tổ chức thẻ khác nhau. Sau khi thanh toán hết dư nợ phát sinh trong kỳ, hạn mức tín dụng của chủ thẻ được khôi phục như ban đầu.
Đây chính là tính chất tuần hoàn của thẻ tín dụng Ngân hàng và các tổ chức tài chính phát hành thẻ tín dụng cho khách hàng dựa trên uy tín va kha năng đảm bao chi trả của từng khách hang. Khả năng đảm bao chi trả được xác định dựa trên các tiêu chí như: thu nhập, tinh hình chi tiêu, uy tín, mối quan hệ sẵn có với các tô chức tài chính, tài sản thế chấp. của khách hàng. Khi sử dụng thẻ, thay bằng tiền mặt, chủ thẻ xuất trình thẻ của mình tại các điểm cung ứng hàng hóa dịch vụ có chấp nhận thẻ đề thanh toán.
Một số thương hiệu thẻ tín dụng phổ biến là: Master Card, Visa, Amex, JCB, Diners Club, UnionPay. - Thẻ trả trước - Prepaid Card 11 Đây là loại thẻ mới được phát triển trên thế giới, khách hàng không cần phải thực hiện các thủ tục phát hành thẻ theo yêu cầu của ngân hàng như điền vào yêu cầu phát hành thẻ chứng minh tài chính,. họ chỉ cần trả cho ngân hàng một số tiền sẽ được ngân hang ban cho một tam thẻ với mệnh giá tương đương. Đặc tính của loại thẻ này giống như mọi thẻ ghi nợ bình thường khác, chỉ có điều thẻ này chỉ được giới hạn trong số tiền có trong thẻ và chỉ tiêu trong một khoảng thời gian nhất định tuỳ vào quy định của mỗi ngân hàng, tức là hạn mức thẻ không có tính chất tuần hoàn.
- Ngoài ra một hình thức thẻ thanh toán đang ngày càng trở nên phổ biến là thẻ liên kết. Thẻ liên kết là sản phâm của một ngân hàng hay tổ chức tài chính kết hợp với một bên thứ ba và thông thường tên, nhãn hiệu thương mại hoặc logo của bên thứ ba này cũng đồng thời xuất hiện trên tam thẻ. Ngoài những đặc điểm sẵn có của thẻ thanh toán thông thường, thẻ liên kết có sức hấp dẫn hơn với khách hàng bởi chính những lợi ích phụ trội do bên thứ ba đem lại. Theo chủ thể phát hành thẻ - Thẻ do ngân hàng phát hành — Bank Card Là loại thẻ do ngân hàng phát hành giúp khách hàng sử dụng một cách linh hoạt số tiền trong tài khoản của mình tại ngân hàng hoặc sử dụng một số tiền do ngân hàng cấp cho vay trên tài khoản.
Đây là loại thẻ được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay, nó không chỉ lưu hành trong phạm vi một quốc gia mà lưu hành trên phạm vi toàn cầu. - Thẻ do tô chức phi ngân hang phát hành — Non-bank Card Là loại thẻ do các tổ chức du lịch và giải trí lớn, nổi tiếng trên thế giới, các tập đoàn kinh doanh, các cửa hiệu lớn. phát hành, như thẻ Dinner’s Club, Amex. Với loại thẻ này, đến ngày cuối tháng chủ thẻ phải thanh toán toàn bộ số dư nợ vào tài khoản, công ty thẻ trực tiếp thực hiện nghiệp vụ thẻ và thu phí từ chủ thẻ và DVCNT.
Theo công nghệ sản xuất - Thẻ khắc chữ nồi - Embossing Card 12 Là loại thẻ được làm dựa trên kĩ thuật khắc chữ nồi. Trên bề mặt thẻ được khắc nổi các thông tin cần thiết. Những tam thẻ đầu tiên đã được sản xuất theo công nghệ này nhưng hiện nay người ta không dùng nữa vì kĩ thuật làm thẻ thô sơ, dễ bị lợi dụng làm giả, không đảm bảo an toàn trong khi sử dụng. - Thẻ băng từ - Magnetic Stripe Là loại thẻ được sản xuất dựa trên kĩ thuật từ tính với một dải băng từ màu nâu đen ở mặt sau của thẻ trên đó thông tin của thẻ và chủ thẻ được mã hóa.
Thẻ này được sử dụng phố biến trong vòng 20 năm trở lại đây nhưng cũng có thể bị người khác lợi dụng vi thông tin ghi trong thé hep và mang tính cố định nên không thé áp dụng ki thuật mã hoá an toàn, có thê đọc được dễ dàng qua hệ thống máy vi tính. - Thẻ thông minh — Smart Card (thẻ điện tử có bộ vi xử ly Chip). Là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán, dựa trên kĩ thuật vi xử lý tin học nhờ gắn vào thẻ “chip” điện tử có cau trúc như một máy tính hoàn hảo. Thẻ thông minh có nhiều nhóm với dung lượng của “chip” điện tử khác nhau.
Một tam thẻ thông minh được gắn chip điện tử dé thay thé cho dai băng từ sau thẻ. So với các loại thẻ từ hiện nay, khả năng kết nối với máy tính của loại chip này cho phép thẻ thông minh thực hiện được nhiều lựa chọn thanh toán và dịch vụ với độan toàn cao hơn, thuận tiện và nhiều lựa chọn hơn. Thẻ thông minh có thể lưu trữ các thông tin quan trọng, được mã hoá với độ bảo mật cao hơn các loại thẻ từ. Trong thanh toán, thẻ thông minh có thé kết hợp đa chức năng và ứng dụng từ các ngành khách nhau như khả năng tính điểm ưu đãi cho khách hàng quen thuộc, nhận dạng, truyền dẫn hay thông tin sức khoẻ.
Cũng có trường hợp thẻ thông minh có cả chip điện tử và băng từ. Theo hạn mức tín dung - Thẻ vàng — Gold Card Là loại thẻ hạng ưu, phù hợp với mức sống và nhu cau tài chính của khách hàng có thu nhập cao, phục vụ cho thị trường cao cấp, phát hành cho các đối tượng có uy tín, có khả năng tài chính lành mạnh, có nhu cầu chi tiêu lớn. Thẻ có hạn mức tín dụng lớn hơn thẻ thường. Thẻ vàng (thẻ cao cấp, thẻ hạng nhất.) là một phát triển của thẻ tin dụng và thanh toán.
Loại thẻ này có những đặc điểm khác nhau tùy 13 thuộc vào trình độ phát triển của mỗi nước nhưng đều có điểm chung là có hạn mức tín dụng cao. - Thẻ thường — Standard Card Là loại thẻ căn bản nhất, mang tính chất phổ thông đại chúng.