phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài được chia làm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về dịch vụ tài liệu số Chương này, trình bày cơ sở lý thuyết về dịch vụ TLS: khái niệm, vai trò của dịch vụ TLS trong TVĐH, các yếu tố tác động đến sự phát triển dịch vụ TLS. Đồng thời, các kinh nghiệm phát triển dịch vụ TLS tại các TVĐH trên thế giới và Việt Nam cũng được trình bày. Các nội dung trình bày tại đây là cơ sở lý luận cho việc triển khai nghiên cứu đề tài. Chƣơng 2: Thực trạng dịch vụ tài liệu số phục vụ cán bộ nghiên cứu tại Thƣ viện Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
13 Trình bày thực trạng và phân tích kết quả khảo sát thực tiễn công tác phát triển dịch vụ TLS tại Thư viện Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM. Đồng thời tổng hợp bảng phỏng vấn Ban Giám đốc, CVTV, NDT về tình hình, định hướng phát triển dịch vụ này. Trên cơ sở đó, tác giả khái quát điểm mạnh, tồn tại, cơ hội, thách thức về dịch vụ TLS tại Thư viện Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM. Chƣơng 3: Các giải pháp phát triển dịch vụ tài liệu số phục vụ cán bộ nghiên cứu tại Thƣ viện Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
Trên cơ sở kết quả khảo sát hiện trạng và định hướng phát triển dịch vụ TLS trong tương lai, tác giả đề xuất một số giải pháp phát triển dịch vụ TLS tại Thư viện Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM. 14 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DỊCH VỤ TÀI LIỆU SỐ 1.1 Cơ sở lý thuyết về dịch vụ tài liệu số 1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến dịch vụ tài liệu số 1.1 Tài liệu số Sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin CNTT đã tác động lớn đến mọi hoạt động trong xã hội, trong đó có hoạt động TT-TV. Nhiều loại hình xuất bản phẩm hiện đại xuất hiện, đặc biệt là TLS đã làm thay đổi hoạt động của các CQTT-TV. Trên thế giới, có nhiều thuật ngữ đã được sử dụng để nói đến TLS như: digital materials, born-digital materials, digital documents… Trong đó có một số quan điểm nổi bật khi thảo luận về ý nghĩa của các thuật ngữ liên quan đến TLS.
Theo Cẩm nang bảo quản số của Đại học Garden thuộc Đại học Tổng hợp Glasgow, Anh , TLS được hiểu là tài liệu dạng số hóa “bao gồm dạng tài liệu từ các định dạng khác được chuyển đổi sang dạng số số hóa - digitisation để xử lý bằng máy tính và dạng TLS được tạo ra ở dạng kỹ thuật số, mà không có tài liệu bản giấy tương đương born-digital ” Digital Preservation Handbook, 2005). Theo Chatterjee và Maity 2013 : “TLS digital documents là sách điện tử, tạp chí điện tử, cơ sở dữ liệu CSDL , CD-ROM, DVDs, v.v… được thu thập trong các thư viện” tr. Harvey và Weatherburn 2018 đưa ra định nghĩa khác về TLS digital materials) bao gồm: “dữ liệu – Data bất kỳ thông tin ở dạng số nhị phân, các đối tượng và CSDL số ; Đối tượng số - Digital Objects dạng đơn giản: tệp văn bản, hình ảnh, âm thanh, ký hiệu nhận dạng và siêu dữ liệu liên quan; dạng phức tạp: cấu trúc kết hợp một số đối tượng số khác nhau như websites ; CSDL – Databases bộ sưu tập có cấu trúc của các biểu ghi hoặc dữ liệu được lưu trữ trong một hệ thống máy tính ” tr. 15 Tại Việt Nam hiện nay, cũng có nhiều quan điểm về khái niệm TLS, từ khái quát đến cụ thể, điển hình như: Theo Lê Văn Năng 2015 , Giám đốc Trung tâm Tin học – Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước : “TLS là vật mang tin mà thông tin trong đó được tạo lập bằng phương pháp dùng tín hiệu số hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân”.
Phạm Văn Hùng 2009 cho rằng “TLS là những tài liệu được lưu giữ bằng máy tính thông qua hai kênh: - Kênh 1: Tạo lập tài liệu gốc bằng máy tính thông qua việc xử lý các file văn bản, hình ảnh, bảng biểu,… - Kênh 2: Tạo lập TLS thông qua hình thức chuyển đổi định dạng các tài liệu đã được tạo lập ở dạng khác như Scan, ghi âm,… ” tr. Tóm lại có thể hiểu TLS là tất cả những tài liệu được trình bày dưới dạng số mà máy tính có thể đọc được. Lại Thế Trung cho rằng, TLS là tài liệu/vật mang tin mà thông tin được chứa đựng trong đó một phần hay toàn bộ nội dung đã được biểu diễn dưới dạng nhị phân chuyển thành các bit/byte thông tin dữ liệu và được lưu trữ, khai thác trên các công cụ tra cứu điện tử với sự hỗ trợ của các thiết bị chuyên dụng, phần mềm và hệ thống mạng máy tính như: sách điện tử, báo điện tử, CSDL điện tử, các chương trình chạy trên máy tính, tài nguyên trong các trang web, các blog,… Lại Thế Trung, 2015, tr. 17) Theo Nguyễn Thị Khanh 2015 , “TLS là các thông tin được mã hóa và lưu trữ trên các vật mang tin để NDT có thể truy cập được qua các thiết bị điện tử, bao gồm: dữ liệu trực tuyến và dữ liệu điện tử ở trên vật mang tin vật lý khác nhau” tr.
Từ các khái niệm trên có thể hiểu TLS là những tài liệu được mã hóa dưới dạng tín hiệu số, có thể được lưu trữ, truy cập qua máy tính, mạng máy tính và được trao đổi, chia sẻ dễ dàng trong môi trường mạng.2 Dịch vụ tài liệu số 16 Dịch vụ TLS bản thân nó cũng là một loại DVTT-TV. Vì vậy, loại dịch vụ này cũng mang đầy đủ những đặc điểm, yêu cầu, tính chất của DVTT-TV. Do đó, trước khi nghiên cứu định nghĩa “dịch vụ TLS” cần hiểu rõ về DVTT-TV. Dịch vụ thông tin – thư viện: DVTT-TV là những hoạt động không thể thiếu đối với CQTT-TV đặc biệt là TVĐH.
Hiện nay có nhiều định nghĩa về DVTT-TV: Theo từ điển giải nghĩa thư viện học và tin học Anh - Việt “Dịch vụ thư viện library service là một từ chung dùng để chỉ tất cả những hoạt động cũng như chương trình được thư viện cung cấp để đáp ứng với nhu cầu về thông tin của NDT” được dịch bởi Phạm Thị Lệ Hương, Lâm Vĩnh Thế và Nguyễn Thị Nga, 1996, tr. Bách khoa toàn thư quốc tế về thư viện và thông tin học International encyclopedia of library and information science định nghĩa: “Dịch vụ thông tin bao gồm lý thuyết và thực tiễn của việc cung cấp những dịch vụ giúp kết nối những người tìm kiếm thông tin với các nguồn tin” được trích dẫn bởi Đỗ Văn Châu, 2006, tr. Theo Sutton 2003 ,“Dịch vụ thông tin là những dịch vụ được cung cấp để đáp ứng nhu cầu của một tổ chức hoặc cá nhân trong đó cần thiết phải có mối quan hệ người thực hiện dịch vụ - khách hàng và cung cấp thông tin chọn lọc thỏa mãn yêu cầu” “. Theo Trần Mạnh Tuấn, “DVTT-TV bao gồm những hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin và trao đổi thông tin của NDT các CQTT-TV nói chung” tr.
Từ những định nghĩa khác nhau về DVTT-TV có thể khái quát DVTT-TV như sau: DVTT-TV bao gồm những hoạt động của CQTT-TV nhằm thỏa mãn NCT của NDT. Dịch vụ TLS: Trong môi trường số phát triển mạnh mẽ như hiện này, các DVTT-TV được xây dựng trên cơ sở ứng dụng công nghệ máy tính và truyền thông nhằm tăng khả năng truy cập, quản lý, sử dụng và phổ biến thông tin đến NDT ngày càng được chú 17 trọng. Các nghiên cứu đã đưa ra những quan điểm về định nghĩa các DVTT-TV trong môi trường số của thư viện sau đây gọi tắt là các dịch vụ thư viện số như sau: Theo Gladney H.M và những người khác 1994 : Một dịch vụ thư viện số là tập hợp của máy tính, thiết bị lưu trữ và máy móc truyền thông số cùng với phần mềm cần thiết để tái tạo, mô phỏng và mở rộng các dịch vụ được cung cấp bởi các thư viện thông thường dựa trên tài liệu giấy và các loại tài liệu khác để thu thập, lưu trữ, đánh chỉ mục, tìm kiếm và phổ biến thông tin tr. Rahman và những người khác 2004 cho rằng: Các dịch vụ thư viện số digital library services là các dịch vụ trên mạng được phân phối bằng kỹ thuật số thông qua mạng máy tính.
Nó duy trì tất cả hoặc một phần của bộ sưu tập ở dạng máy tính để có thể truy cập thay thế hoặc bổ sung cho các tài liệu in và microforms thông thường. Dịch vụ thông tin điện tử/số đang cung cấp bao gồm: CD-ROM; Tài liệu điện tử; Duy trì đăng ký và trả phí trực tuyến; Truy cập vào các ấn phẩm định kỳ trực tuyến bao gồm cả các tạp chí trực tuyến miễn phí ; E-mail và cảnh báo điện tử từ các nhà xuất bản tạp chí; Quản lý các trang web, CSDL. Khachatryan 2014 định nghĩa “dịch vụ thư viện số” là: “Các dịch vụ được cung cấp trên thư viện số hoặc tại thư viện truyền thống thông qua việc sử dụng trên máy tính bàn, máy tính xách tay, máy tính bảng, máy tính cầm tay hoặc điện thoại thông minh được trang bị các công nghệ hỗ trợ hoặc ứng dụng có truy cập internet băng thông rộng” tr. Bên cạnh đó, hầu hết các nghiên cứu về DVTT-TV và thực tiễn hoạt động của các CQTT-TV đều cho thấy mục đích của các DVTT-TV là: 1 Cung cấp cho NDT những thông tin phù hợp và có chất lượng; 2 Cung cấp tiện ích, không gian và môi trường học tập cho NDT; 3 Hướng dẫn NDT tìm và sử dụng thông tin hiệu quả; 18 4 Hỗ trợ NDT một cách tối đa Nguyễn Hồng Sinh, 2018.
Tương tự, các dịch vụ thư viện số cũng là nhằm mục đích cung cấp TLS phù hợp và chất lượng nhất đến với NDT, hướng dẫn và hỗ trợ NDT khai thác tối đa hiệu quả của nguồn TLS của CQTT-TV. Chính vì vậy, trong đề tài này, dựa trên các quan điểm nghiên cứu trước đó, có thể hiểu dịch vụ TLS là tất cả các DVTT-TV được tạo lập trong môi trường số nhằm đáp ứng tốt nhất các nhu cầu xung quanh quá trình tiếp cận và sử dụng TLS của NDT. Bên cạnh đó, dịch vụ TLS là loại hình dịch vụ cụ thể cho nên nó cũng mang các đặc trưng cơ bản của dịch vụ nói chung và của DVTT-TV nói riêng. Theo tác giả Nguyễn Hồng Sinh 2018 , các đặc trưng đó bao gồm: - Tính vô hình (intangibility): dịch vụ không thể nhận biết được bằng các giác quan.