CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về dịch vụ phi tín dụng 1. Khái niệm dịch vụ phi tín dụng Từ điển thuật ngữ ngân hàng của Nhà xuất bản giáo dục Barron, xuất bản lần thứ 5 của Thomas P. Fitch định nghĩa về dịch vụ phi tín dụng: Dịch vụ phi tín dụng (non creditbanking services) là các dịch vụ ngân hàng dựa trên lệ phí không liên quan đến việc mởrộng tín dụng mà ngân hàng cung cấp cho các ngân hàng đại lý hoặc khách hàng doanhnghiệp.
Thu nhập từ dịch vụ phi tín dụng có thể là một nguồn thu đáng kể cho các ngânhàng và các tổ chức tài chính. Ví dụ dịch vụ phi tín dụng bao gồm sự tin tưởng và các khoản thu liên quan đến đầu tư, quản lý tiền mặt toàn cầu, trao đổi tiền tệ nước ngoài… Theo Tài liệu dự án “Khảo sát và đánh giá dịch vụ phi tín dụng ngân hàng Việt Nam” của tổ chức Deloitte Touche Tohmatsu, dịch vụ phi tín dụng là bất cứ dịch vụ hoặc sản phẩm nào cung cấp bởi ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính mà không phải là những dịch vụ tín dụng. Dịch vụ phi tín dụng là dịch vụ được ngân hàng cung cấp tới khách hàng đáp ứng nhu cầu về tài chính, tiền tệ của khách hàng nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp đem lại cho ngân hàng một khoản thu nhập nhất định, không bao gồm dịch vụ tín dụng. Theo Phạm Anh Thuỷ (2012), Dịch vụ phi tín dụng được hiểu là bất cứ dịch vụ hay sản phẩm nào cung cấp bởi ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng mà không phải những dịch vụ tín dụng.
Dịch vụ phi tín dụng là dịch vụ được ngân hàng cung cấp đến khách hàng đáp ứng nhu cầu về tài chính, tiền tệ của khách hàng nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp đem lại cho ngân hàng một khoản thu nhập nhất định, không bao gồm dịch vụ tín dụng”. Như vậy, dịch vụ phi tín dụng là toàn bộ các dịch vụ ngân hàng không kể dịch vụ tín dụng, nó cũng có đầy đủ các đặc điểm của dịch vụ ngân hàng. Điểm khác biệt cơ bản so với dịch vụ tín dụng là khi thực hiện các dịch vụ phi tín dụng, ngân hàng không thu lãi mà thu các khoản phí từ dịch vụ do mình cung cấp. Tác giả có thể khái quát và đưa ra khái niệm dịch vụ phi tín dụng như sau: 8 Dịch vụ phi tín dụng là các dịch vụ ngân hàng mang lại nguồn thu cho các ngân hàng ngoài nguồn thu từ lãi tín dụng thể hiện qua các khoản thu từ dịch vụ tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ bảo lãnh thu phí, dịch vụ tư vấn, dịch vụ ủy thác, dịch vụ kinh doanh ngoại tệ… 1.
Sự khác nhau giữa dịch vụ tín dụng và dịch vụ phi tín dụng Dịch vụ tín dụng và dịch vụ phi tín dụng đều là dịch vụ, do đó đều mang đầy đủ những thuộc tính chung của dịch vụ như là tính vô hình, tính không thể tách biệt hoặc không chia cắt và tính không ổn định và khó xác định. Sự khác nhau giữa dịch vụ phi tín dụng so với dịch vụ tín dụng được thể hiện qua các đặc điểm sau: Dịch vụ tín dụng không làm phát sinh các nghiệp vụ liên quan đến việc cung cấp và thu hồi tài sản đối với khách hàng. Đây là đặc điểm phân biệt rõ nhất dịch vụ phi tín dụng với dịch vụ tín dụng. Xét về mặt nghiệp vụ, khi dịch vụ phi tín dụng được ngân hàng cung cấp tới khách hàng thì không làm phát sinh các khoản mục cho vay trong phần tài sản của Bảng cân đối kế toán của ngân hàng, hay nói khác đi đó là dịch vụ không làm ngân hàng phải chuẩn bị một khoản tiền thực để nhận lại khoản tiền đó sau một khoản thời gian.
Dịch vụ phi tín dụng không chịu tác động trực tiếp của lãi suất. Đối với dịch vụ phi tín dụng, thu nhập được hình thành từ phí dịch vụ, chênh lệch giá, hoa hồng,… Như vậy, để đánh giá hoạt động phi tín dụng của một ngân hàng có thể căn cứ vào tỷ lệ thu ngoài lãi trên tổng thu nhập. Tỷ lệ này càng cao, càng chứng tỏ tính hiệu quả của dịch vụ phi tín dụng. Do đó, sự thay đổi về lãi suất không tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh cũng như việc phát triển các dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng Dịch vụ phi tín dụng không hiện hữu: dịch vụ phi tín dụng không thể cảm nhận được bằng các giác quan, và kết quả được biểu hiện qua một số yếu tố - là phương tiện chuyển giao dịch vụ cho khách hàng như: địa điểm cung ứng, thái độ của giao dịch viên, thời gian xử lý công việc, môi trường giao dịch,… Dịch vụ phi tín dụng dễ bắt chước: khác với dịch vụ tín dụng của mỗi ngân hàng được xây dựng trên cơ chế quản lý và khẩu vị rủi ro riêng biệt, đối tượng khách hàng hướng đến; dịch vụ phi tín dụng có thể giống nhau ở nhiều ngân hàng 9 nếu nó mang lại hiệu quả kinh doanh tốt.
Các dịch vụ phi tín dụng có thể được cung cấp trọn gói mà không giới hạn các số lượng sản phẩm trong gói: các dịch vụ phi tín dụng đều có mối quan hệ với nhau tạo thành một chu trình. Các mối quan hệ này tạo ra một hệ thống hỗ trợ lẫn nhau trong sự phát triển các dịch vụ ngân hàng.Nhờ đó ngân hàng có được sự phát triển dịch vụ bền vững, phát huy tính hệ thống của dịch vụ và có thể cung cấp các dịch vụ trọn gói cho khách hàng. Việc cung cấp các dịch vụ phi tín dụng cho khách hàng không tuân theo nguyên tắc hoàn trả: doanh thu, chi phí cho các dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng không bao gồm các khoản lãi thu được từ việc cấp tín dụng cho khách hàng hay lãi phải trả từ việc vay vốn của khách hàng. Do đó, việc cung cấp dịch vụ phi tín dụng cho khách hàng được thực hiện “mua đứt bán đoạn” mà không có sự hoàn trả từ phía khách hàng.
Các loại hình dịch vụ phi tín dụng Dịch vụ thanh toán Dịch vụ thanh toán bao gồm dịch vụ thanh toán trong nước và dịch vụ thanh toán quốc tế. Trong đó: Dịch vụ thanh toán trong nước bao gồm các hình thức dịch vụ sau: Thanh toán bằng Ủy nhiệm chi (UNC): là phương thức thanh toán được ngân hàng thực hiện theo UNC của khách hàng bằng cách trích chuyển tiền trên tài khoản TGTT của khách hàng lập UNC sang tài khoản TGTT của bên thụ hưởng. Thanh toán bằng Ủy nhiệm thu (UNT): là phương thức thanh toán mà khách hàng lập UNT theo mẫu của ngân hàng để ủy nhiệm ngân hàng thu hộ tiền người mua, người nhận cung ứng hàng hóa, dịch vụ trên cơ sở hợp đồng thương mại giữa hai bên. Thanh toán bằng séc: séc là mệnh lệnh thanh toán vô điều kiện của chủ tàikhoản lập dưới dạng văn bản yêu cầu tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán chi trả một số tiền nhất định cho người thụ hưởng bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản từ tài khoản TGTT của người ký phát séc cho người thụ hưởng trên tờ séc hoặc trả theo 1 lệnh của người thụ hưởng hoặc trả cho người xuất trình.
Thanh toán bằng thư tín dụng: là hình thức thanh toán trong nước chủ yếu được thực hiện trong các nghiệp vụ kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ. Thanh toán bằng thẻ thanh toán: Thẻ thanh toán do Ngân hàng phát hành bán cho khách hàng sử dụng để trả tiền hàng hóa, dịch vụ, các khoản thanh toán khác, rút tiền mặt tại các Ngân hàng đại lý thanh toán hay các quầy rút tiền tự động. Dịch vụ thanh toán quốc tế: Thanh toán quốc tế là quá trình thực hiện các khoản thu chi tiền tệ liên quan đến các mối quan hệ kinh tế, thương mại, và các mối quan hệ phi kinh tế khác giữa các tổ chức, công ty, cá nhân các nước thông qua hoạt động hệ thống ngân hàng có quan hệ đại lý trên toàn thế giới. Trong TTQT hiện nay, thường sử dụng các phương thức thanh toán như: Phương thức thanh toán chuyển tiền: là phương thức thanh toán đơn giản nhất, trong đó một khách hàng (người mua, người trả tiền, người nhập khẩu…) yêu cầu ngân hàng phục vụ chuyển một số tiền nhất định cho người thụ hưởng (người bán, người xuất khẩu, ngươi nhận tiền) ở một địa điểm xác định trong một thời gian nhất định.
Phương thức thanh toán nhờ thu: là phương thức thanh toán trong đó công ty xuất khẩu sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ sẽ tiến hành. Dịch vụ thẻ Thanh toán bằng thẻ: thẻ thanh toán là phương tiện thanh toán do các ngân hàng phát hành. Chủ thẻ sử dụng thẻ để thực hiện việc thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ, hoặc nộp, rút tiền mặt, chuyển khoản tại các máy, các quầy tự động của ngân hàng. Các NHTM ngày nay đang cung cấp cho khách hàng hai loại thẻ phổ biến nhất là thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng.
Thẻ ghi nợ: là loại thẻ gắn liền với tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng. Khách hàng có thể sử dụng thẻ để rút tiền mặt; thanh toán, chi trả tiền mua 1 hàng hóa, dịch vụ ở bất kỳ điểm bán hàng nào có đặt máy đọc thẻ của NHTM. Khi khách hàng sử dụng loại thẻ này để thanh toán thì giá trị giao dịch được khấu trừ ngay vào tài khoản của khách hàng. Thẻ tín dụng: là loại thẻ được sử dụng phổ biến, NHTM cho phép chủ thẻ không cần có số dư trên tài khoản và được sử dụng một hạn mức tín dụng nhất định.
Đây là loại thẻ “ tiêu tiền trước, trả tiền sau”, người sử dụng thẻ được tổ chức phát hành thẻ ứng tiền trước để tiêu dùng và chỉ phải thanh toán toàn bộ, hoặc một phần vào cuối mỗi kỳ thanh toán. Dịch vụ ngân hàng điện tử Dịch vụ ngân hàng điện tử được giải thích như là dịch vụ cho phép KH có thể truy cập từ xa vào một ngân hàng nhằm: thu thập thông tin, thực hiện các giao dịch thanh toán, tài chính dựa trên tài khoản mở tại ngân hàng và đăng ký sử dụng dịch vụ mới. Hiện nay, có hai kênh phân phối dịch vụ ngân hàng điện tử chủ yếu là internet và điện thoại. Kênh phân phối dịch vụ ngân hàng điện tử qua điện thoại có thể thực hiện với dịch vụ: Call centre, Phone banking, SMS banking, Mobile banking.