Chương I: Khái quát một số van dé cơ bản về dịch vụ ngân hàng. Chương II: Phát triển dịch vụ ngân hàng của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO. Chương HI: Dich vụ ngân hàng Việt nam và một số bài học rút ra từ kinh nghiệm của Trung Quốc II CHUONG 1: KHAI QUAT MOT SO VAN DE CO BAN VE DICH VU NGAN HANG 1. KHAI NIEM, DAC DIEM, VAI TRO CUA DICH VU NGAN HANG 1.
Khái niệm về ngân hang va dich vụ ngân hang: Luật các tô chức tín dụng sửa đổi b6 sung năm 2004, định nghĩa: Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gốm ngân hàng thương mại (NHTM), ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác. Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán [13, điều 20]. Luật Ngân hàng Nhà nước sửa đổi năm 2003 định nghĩa: Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán [14, điều 9].
Hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại bao gồm: Hoạt động huy động vốn, hoạt động tín dụng, hoạt động dịch vụ thanh toán, hoạt động ngân quỹ, các hoạt động khác như góp vốn, mua cô phan, tham gia thị trường tiền tệ. Dịch vụ ngân hàng (DVNH) là loại hình dịch vụ xuất hiện sớm nhất trong các loại hình dịch vụ tài chính. Theo cách định nghĩa của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đưa ra trong Phụ lục về dịch vụ tài chính của Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) thì: “Một dịch vụ tài chính là bat ky dịch vụ nào có tính chất tải chính được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp”. Dịch vụ tài chính bao gôm: dịch vụ bảo hiêm và dịch vụ liên quan tới bảo hiêm, mọi địch vụ 12 ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm).
Điều đó có nghĩa là DVNH là một bộ phận cấu thành dịch vụ tải chính và trong bảng phân nganh dich vụ của WTO, nó được chia thành 12 phân ngành cu thể sau: œ) Nhận tiền gửi và các khoản tiền từ công chúng; (2) Cho vay dưới mọi hình thức bao gồm: cho vay tiêu dùng, thế chấp, bao thanh toán và các khoản tải trợ cho các giao dịch thương mại khác; (3) Cho thuê tài chính; (4) Tất cả các khoản thanh toán và chuyển tiền, bao gồm thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, thẻ thanh toán, séc du lịch và hối phiếu ngân hang (bankers drafts) (5) Bao lãnh và cam kết thanh toán (6) Tự doanh hoặc kinh doanh trên tai khoản của khách hàng, ké cả trên thi trường tập trung, thị trường OTC hoặc các thị trường khác, các sản phẩm sau: Các công cụ thị trường tiền tệ, gồm séc, hối phiếu, chứng chỉ tiền gửi Ngoại hồi Các công cụ phái sinh, bao gồm (nhưng không hạn chế) các hợp đồng giao dịch tương lai (futures) và quyền chon (options) Các sản phẩm dựa trên lãi suất và ty giá, bao gồm các sản pham như các hợp đồng kỳ han (forward) và hoán đôi (swaps) Các chứng khoán có kha năng chuyền nhượng Các công cụ chuyền nhượng và các tai sản tài chính khác, kể cả vàng nén (7) Phát hành các loại chứng khoán, bao gồm cả việc bảo lãnh phát hành và đại ly phát hành (ca phát hành công khai và không công khai) và cung ứng các dịch vụ liên quan đến hoạt động phát hành; (8) Môi giới tiền tệ; (9) Quản lý tài sản gồm quản lý tiền mặt, quản lý danh mục, tất cả các hình thức quản lý đầu tư tập thể, quản lý quỹ hưu trí, dịch vụ uỷ thác, lưu ký và tín thác; 13 q0) Dịch vụ thanh toán và thanh toán bù trừ đối với các tài sản tài chính, bao gồm chứng khoán, các sản phẩm phái sinh và các công cụ có thể chuyên nhượng khác (11) Cung cấp và trao đổi các thông tin tài chính, xử ly đữ liệu tài chính và phan mềm có liên quan của các nhà cung ứng của các dịch vụ tài chính khác. q2) Dich vụ tu vấn, môi giới và các dịch vụ tài chính hỗ trợ khác liên quan đến tất cả các hoạt động nói trên, bao gồm cả việc tham chiếu và phân tích tín dụng, nghiên cứu, tư vấn đầu tư và đầu tư theo danh mục, tư vấn đối với các hoạt động mua lại và tái co cau doanh nghiệp cũng như xây dựng chiến lược [15, tr 27-28]. Trong Phụ lục G của Hiệp định thương mai Việt - Mỹ (BTA), danh mục các dịch vụ ngân hang cũng được phân thành 12 phân ngành trên. Về khái niệm thương mại dich vụ ngân hàng, nếu hiểu theo nghĩa cán cân thanh thanh toán quốc tế (BOP) thì khái niệm xuất nhập khâu dịch vụ tài chính nói chung và dịch vụ ngân hàng nói riêng là mọi giao dịch, mua bán giữa người cư trú và không cư trú nhăm mục đích thu lợi.
Còn WTO lại xem xét các giao dịch dịch vụ qua 4 phương thức: (1) Cung cấp qua biên giới; (2) Tiêu dùng dich vụ ngoài lãnh thổ; (3) Hiện diện thương mại ; (4) Hiện diện của thể nhân cung cấp dịch vụ. Từ đây có thể thấy rõ phương thức (1) và (2) tương ứng với khái niệm xuất nhập khâu thông thường. Như vậy, so với WTO thì BOP bỏ qua 2 phương thức cung cấp dịch vụ quan trọng khác đó là phương thức (3) và (4) liên quan đến khả năng cung cấp dịch vụ của người cung cấp dịch vụ nước ngoài cho các đối tượng tiêu dùng cùng dịch vụ của một số nước khác thông qua hiện diện thương mại của mình như các công ty tài chính, chi nhánh, văn phòng đại diện. Đây là các khoản đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp tai chính nước ngoài vào thi trường trong nước.
Theo Điều III của “Luật ngân hàng thương mại nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa” sửa đổi vào tháng 12/2003 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2004 quy định: Ngân hàng thương mại có thể kinh doanh một phần hoặc tất cả các dịch vụ sau: 14 (1) Nhận tiền gửi từ công chúng (2) Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn (3) Thanh toán trong và ngoải nước (4) Nhận thanh toán và chiết khấu (5) Phát hành chứng khoán tiền tệ (6) Đại lý phát hành, dịch vụ nhờ thu, bảo lãnh phát hành trái phiếu chính phủ (7) Mua bán trái phiếu chính phủ, chứng khoán tiền tệ (8) Vay liên ngân hàng (9) Mua bán, đại lý mua bán ngoại tệ (10) Thực hiện nghiệp vụ thẻ ngân hàng (11) Cung cấp dịch vụ thẻ tín dụng và bảo lãnh (12) Điểm chấp nhận thẻ và nghiệp vụ đại lý bảo hiểm (13) Cung cấp dịch vụ két bảo quản (14) Các nghiệp vụ khác được Cơ quan quản lý giám sát tiền tệ ngành ngân hàng — Quốc vụ viện thông qua [22, điều 3]. Theo quy định trên thì dich vụ của ngân hàng thương mại Trung Quốc có thé phân thành 4 nhóm chính: dịch vụ huy động vốn; dịch vụ cho vay; dịch vụ thu phí và dịch vụ ngân hàng quốc tế. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của chuyên đề và cũng dé phù hợp với thực tiễn của Việt Nam, chuyên đề sẽ không phân tích riêng từng phân ngành DVNH trên mà sẽ nhóm thành 3 nhóm dịch vụ chủ yếu là: dịch vụ huy động vốn; dịch vụ cho vay và dịch vụ thu phí. Dịch vụ huy động vốn: Huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của ngân hàng thương mại.
Hoạt động này mang lại nguồn vốn để ngân hàng có thé thực hiện các hoạt động khác như cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ ngân hàng 15 cho khách hàng. Trong bảng cân đối tài sản của ngân hàng thương mại, hoạt động huy động vốn được phản ánh bên phần tài sản nợ [5, tr 34-35]. Dịch vụ huy động vốn của ngân hàng thương mại bao gồm huy động vốn qua tài khoản tiền gửi (tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm), huy động vốn qua phát hành giấy tờ có giá (huy động vốn ngắn và vốn trung, dài hạn), và huy động vốn từ các tô chức tín dụng khác và ngân hàng trung ương. Dịch vụ huy động vốn tuy không mang lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàng nhưng nó là mảng dịch vụ rất quan trọng.
Nếu không có dịch vụ huy động vốn thì xem như không có hoạt động của ngân hàng thương mại. Khi ngân hàng thương mại được cấp phép thành lập phải có vốn điều lệ theo quy định, tuy nhiên vốn điều lệ chỉ đủ tài trợ cho tài sản cố định như trụ sở, văn phòng, máy móc thiết bị cần thiết chứ chưa đủ vốn cho hoạt động kinh doanh như cấp tín dụng và các dịch vụ ngân hàng khác. Đề có vốn phục vụ cho các hoạt động này, ngân hàng phải huy động vốn từ khách hàng, chính vì vậy dịch vụ huy động vốn đóng vai trò quan trọng đối với ngân hàng cũng như khách hàng. Về phía ngân hàng, huy động vốn góp phan giải quyết “đầu vào” của ngân hàng.
Còn về phía khách hàng thì huy động vốn cung cấp cho họ một kênh tiết kiệm và đầu tư nhằm làm cho tiền của họ sinh lời, tạo cho họ có thê gia tăng tiêu dùng trong tương lai. Mặt khác, dịch vụ huy động vốn còn cung cấp cho khách hàng một nơi an toàn đề họ cất trữ và tích luỹ vốn tạm thời nhàn rỗi. Dịch vụ cho vay: Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền dé sử dụng vào mục dich và thời hạn nhất định (thời hạn cho vay) theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Thời hạn cho vay được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thoả thuận trong hợp đồng tin dụng giữa t6 chức tín dụng với khách hàng.
Dựa vào thời hạn, cho vay có thé chia thành cho vay ngắn hạn, trung han và dai hạn. (i) Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng. (ii) Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 16 tháng.