Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ GIAO NHẬN NỘI ĐỊA 1. Một số lý thuyết về kinh doanh dịch vụ 1. Khái niệm về dịch vụ Có nhiều định nghĩa khác nhau về dịch vụ, nhưng nhìn chung các định nghĩa đều đề cập đến điểm chung rằng dịch vụ là sản phẩm của quá trình lao động, không tồn tại dưới dạng vật chất và quá trình sản xuất và tiêu thụ xảy ra đồng thời nhằm mục tiêu đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Theo Philip Kotler, “Dịch vụ là một quá trình hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa người cung cấp với khách hàng hoặc tài sản của khách hàng mà không có sự thay đổi quyền sở hữu”.
(Nguồn: Tài liệu môn Marketing dịch vụ logistics, Trường Đại học Thăng Long) Trong kinh tế học, dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất. Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình và những sản phẩm thiên hẳn về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên đa số là những sản phẩm nằm trong khoảng giữa sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Tại Khoản 3 Điều 4 Luật giá năm 2012 có quy định: “Dịch vụ là hàng hóa mang tính vô hình, trong quá trình sản xuất và tiêu dùng không hề tách rời nhau, bao gồm những loại dịch vụ trong hệ thống các ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật”. Theo Luật Thương mại 2005, “Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận”.
(Nguồn: https://luatminhkhue.vn/dich-vu-la-gi. Các loại dịch vụ Xét theo phương pháp loại trừ: − Thương mại; − Vận chuyển, phân phối, lưu kho; − Dịch vụ y tế; − Ngân hàng, bảo hiểm; 3 − Dịch vụ chăm sóc sức khỏe; − Dịch vụ bưu chính viễn thông; − Kinh doanh bất động sản; − Dịch vụ công cộng, dịch vụ khối công quyền; − Dịch vụ đào tạo, trông trẻ. Xét theo mức độ liên hệ với khách hàng: Các loại dịch vụ thuần túy: − Dịch vụ khách sạn; − Dịch vụ đào tạo; − Dịch vụ giao thông công cộng; − Dịch vụ chăm sóc sức khỏe; − Dịch vụ nhà hàng. Dịch vụ pha trộn: − Dịch vụ chi nhánh văn phòng; − Dịch vụ ngân hàng; − Dịch vụ dịch vụ về bất động sản; − Dịch vụ máy tính; − Dịch vụ bưu điện; − Dịch vụ tang lễ; − Dịch vụ du lịch.
Dịch vụ bao hàm sản xuất: − Dịch vụ hàng không; − Dịch vụ dịch vụ khối công quyền; − Dịch vụ dịch vụ sửa chữa; − Dịch vụ dịch vụ thương nghiệp. (Nguồn: https://luatminhkhue.vn/dich-vu-la-gi.aspx) 4 Thư viện ĐH Thăng Long 1. Một số lý thuyết về giao nhận hàng hóa 1. Khái niệm về hàng hóa Hàng hóa là các sản phẩm của lao động, có giá trị, thỏa mãn nhu cầu của con người và được lưu thông, trao đổi trên thị trường.
Trong kinh tế chính trị Marx-Lenin, hàng hóa được định nghĩa là sản phẩm của lao động thông qua trao đổi, mua bán. Hàng hóa có thể là hữu hình như sắt thép, quyển sách hay ở dạng vô hình như sức lao động. Karl Marx định nghĩa hàng hóa trước hết là đồ vật mang hình dạng có khả năng thỏa mãn nhu cầu con người nhờ vào các tính chất của nó. (Nguồn: https://luatminhkhue.vn/hang-hoa-la-gi.aspx) Trang Investopedia định nghĩa hàng hóa thông thường là các sản phẩm tiêu dùng như thực phẩm và quần áo thể hiện mối quan hệ trực tiếp giữa nhu cầu và thu nhập.
Khi thu nhập của người tiêu dùng tăng lên, nhu cầu về hàng hóa thông thường cũng tăng lên. (Nguồn: https://www.com/terms/n/normal-good. Khái niệm về dịch vụ giao nhận hàng hóa Dịch vụ giao nhận hàng hóa là hoạt động trong lĩnh vực lưu thông, phân phối những hàng hóa nối liền giữa các chủ thể với nhau. Giao nhận vận tải có thể đảm nhiệm chức năng đưa hàng hóa, nguyên vật liệu từ người bán đến người bán, hoặc từ người bán đến người mua… Hoạt động giao nhận gắn liền với quá trình vận tải, các hoạt động liên quan có thể bao gồm như: tập kết hàng hóa, vận chuyển, bốc xếp, lưu kho, xử lý, đóng gói, thủ tục và chứng từ hàng hóa.
Với hàm nghĩa nhiều rộng như thế nên có thể có rất nhiều định nghĩa về giao nhận. Theo Liên đoàn các Hiệp hội Giao nhận Vận tải Quốc tế (FIATA) “Giao nhận là bất kỳ loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển (được thực hiện bằng vận tải đơn phương thức hoặc đa phương thức), gom hàng, bốc xếp, lưu kho, đóng gói hay phân phối hàng hoá, cũng như các dịch vụ tư vấn có liên quan đến các dịch vụ kể trên kể cả vấn đề hải quan, mua bảo hiểm, tài chính, thanh toán, thu thập các chứng từ liên quan đến hàng hóa”. (Nguồn: https://vietnambiz.vn/dich-vu-giao-nhan-freight-forwarding-la-gi-pham- vi-cua-dich-vu-giao-nhan- htm#:~:text=D%E1%BB%8Bch%20v%E1%BB%A5%20giao%2 5 0nh%E1%BA%ADn%20l%C3%A0,li%C3%AAn%20quan%20%C4%91%E1%BA%B Fn%20h%C3%A0ng%20h%C3%B3a.) Theo Luật thương mại Việt Nam năm 2005 “Dịch vụ giao nhận hàng hoá là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao nhận theo sự uỷ thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người làm dịch vụ giao nhận khác”. (Nguồn: https://www.com/n/khai-niem-chung-ve-dich-vu-giao-nhan- freight-forwarding-108) Như vậy, giao nhận vận tải hàng hóa bao gồm tất cả các dịch vụ vận chuyển, xếp dỡ, lưu kho, phân phối hàng hóa và các dịch vụ hỗ trợ và tư vấn có liên quan với mục đích sau cùng là di chuyển hàng hóa từ nơi gửi hàng (người gửi hàng) đến nơi nhận hàng (người nhận hàng).
Phương thức vận chuyển được sử dụng cũng rất đa dạng, có thể bằng đường bộ, đường sắt, đường hàng không hoặc vận chuyển đa phương thức… 1. Dịch vụ giao nhận hàng hóa nội địa Dựa trên khái niệm về dịch vụ giao nhận được đề cập ở trên, dịch vụ giao nhận hàng hóa nội địa được hiểu là các hoạt động trong lĩnh vực lưu thông, phân phối hàng hóa giữa các chủ thể với nhau trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia, đảm nhiệm chức năng đưa hàng hóa, nguyên vật liệu từ người bán đến người bán, hoặc từ người bán đến người mua…trong quốc gia đó. Vậy hoạt động giao nhận nội địa là tập hợp những công việc liên quan đến: tập kết hàng hóa, vận chuyển, bốc xếp, lưu kho, xử lý, đóng gói, thủ tục và chứng từ hàng hóa trong nội địa một quốc gia đó. Trong thực tế, vận chuyển nội địa tại Việt Nam khá đa dạng.
Do đặc điểm về địa lý nên hiện nay hàng hóa được vận chuyển chủ yếu bằng một số phương thức sau: − Vận chuyển bằng xe tải đường dài; − Vận tải đường sắt; − Vận tải biển nội địa; − Vận tải đường thủy; − Vận chuyển nội địa bằng đường hàng không. 6 Thư viện ĐH Thăng Long Tùy thuộc vào nhu cầu, thời gian, loại hàng hóa vận chuyển mà cá nhân hay doanh nghiệp gửi hàng sẽ lựa chọn hình thức và phương tiện vận chuyển nội địa phù hợp. Đặc điểm của giao nhận hàng hóa nội địa Mang tính thụ động: do phụ thuộc vào nhu cầu của khách hàng, các quy định của người vận chuyển, các ràng buộc về pháp luật,… Mang tính thời vụ: hoạt động giao nhận phụ thuộc vào hoạt động kinh doanh, xuất nhập khẩu. Mà các hoạt động kinh doanh, xuất nhập khẩu có tính chất thời vụ nên hoạt động giao nhận mang tính thời vụ.
Mang đặc điểm của dịch vụ vận tải: bởi vì dịch vụ giao nhận bao hàm cả dịch vụ vận tải. Dây chuyền vận tải này có ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng dịch vụ. Do vậy, khi tổ chức một dây chuyền vận tải, người giao nhận cần phải nắm rõ: – Các thị trường; – Những trở ngại; – Những yêu cầu về chứng từ, giấy tờ pháp lý; – Các chi phí; – Các phương tiện vận tải khác nhau, lợi ích và bất lợi của mỗi loại, giá cả. Phụ thuộc vào cơ sở vật chất và trình độ của người giao nhận: trong thực tế, việc giao và nhận hàng cũng như việc thực hiện các công việc khác diễn ra với quy mô rất lớn và liên tục.
Vì thế một đơn vị giao nhận không thể có đủ cơ sở vật chất, phương tiện vận chuyển đáp ứng được hết yêu cầu cùng lúc. Họ thường đi thuê các nhà chuyên chở: hãng xe, hãng hàng không, đường sắt… để hoàn thành công việc của mình. Người giao nhận phải có khả năng và sẵn sàng giải quyết mọi vấn đề về hậu cần và vận tải trên quy mô lớn. (Nguồn: Thao khảo Tuyết, P.
Đánh giá hoạt động giao nhận hàng hóa nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại công ty cổ phần giao nhận và vận chuyển In Do Trần năm 2019 (Doctoral dissertation, Đại học Giao thông vận tải TP. Hồ Chí Minh). Sự khác nhau giữa giao nhận hàng hóa nội địa và hàng xuất nhập khẩu Xuất khẩu và nhập khẩu theo Điều 28 của Luật Thương mại Việt Nam 2005 có đưa ra định nghĩa như sau: 7 “ Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”. “Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.
(Nguồn: https://masimex.vn/chia-se-kien-thuc/logistics-va-xuat-nhap-khau-khac-nhau- nhu-the-nao.html) Từ khái niệm về giao nhận hàng hóa nội địa đã nêu ở phần trước và định nghĩa về xuất nhập khẩu, có thể chỉ ra những sự khác nhau cơ bản giữa giao nhận nội địa và xuất nhập khẩu như sau: Bảng 1. So sánh giao nhận nội địa và xuất nhập khẩu Tiêu chí Xuất nhập khẩu Giao nhận nội địa Phạm vi Là những hoạt động bắt buộc có Là những hoạt động nội địa trong hoạt động yếu tố quốc tế. Xuất khẩu: - Nghiên cứu lựa chọn thị trường và đối tác; - Lựa chọn hình thức xuất khẩu - Dịch vụ khách hàng; của các doanh nghiệp; - Dự báo nhu cầu; - Xây dựng giá hàng xuất khẩu; - Xử lý đơn hàng; - Phương án kinh doanh; - Đóng gói hàng hóa; Nội dung - Giao dịch, đàm phán, ký kết - Quản trị kho hàng; hợp đồng; - Quản trị Vận tải; - Tổ chức xuất khẩu hàng hóa. - Hệ thống thông tin Logistics Nhập khẩu: (ứng dụng IT, high-tech).