chương 1 đã hệ thông hóa các vấn đề lý luận liên quan đến việc phát triển dịch vụ cảng biển; chương 2 thông qua việc điều tra, khảo sát, tác giả đã đánh giá, phân tích thực trạng phát triển dịch vụ cảng biển tại Đà Nẵng; chương 3 đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển dịch vụ cảng biển trong thời gian tới. Tuy nhiên, có vẻ như đề tài này còn kha sơ sai, ngoai việc thiéu di su tong thuật tai liệu có liên quan và cả một hệ thống phương pháp nghiên cứu, các thông tin và số liệu chưa có tính thuyết phục người đọc bởi chưa đưa ra được minh chứng từ cuộc khảo sát. Luận văn thạc sĩ của khoa Kinh tế thế giới và Quan hệ kinh tế quốc tẾ, trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN (2012) “Phát triển dich vụ logistics trong giao nhận, vận tải biển cua Việt Nam trường hợp công ty PNT chi nhánh phía Bac” của Dương Minh Nguyệt đã phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu tại công ty PNT. Tìm hiểu quá trình hình thành, phát triển của công ty và thu thập những số liệu thực tế của công ty để đưa ra những nhận xét và biện pháp khắc phục khó khăn cũng như nâng cao hiệu quả của dịch vụ logistics trong giao nhận hàng hóa, vận tải bién.
Qua cái nhìn tổng quát chung về nội dung các đề tài nghiên cứu ở trên, chúng ta thấy những công trình đồ sộ hầu như chưa đi sâu nghiên cứu về dịch vụ cảng biển mà tập trung chủ yếu vào nghiên cứu dich vụ logistics cảng biển, ngành hàng hải Việt Nam hay vận tải biển. Các bài nghiên cứu về dịch vụ cảng biển lại chỉ nghiên cứu riêng về tỉnh thành, hoặc một mảng nhỏ trong dịch vụ cảng biển như dịch vụ hậu cần cảng. Do vậy đề tài này nghiên cứu về dịch vụ cảng biển Việt Nam thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế hi vọng sẽ bổ sung đầy đủ hơn về nội dung và phương pháp nghiên cứu nhằm lap bớt khoảng trống với các đề tài trước. Cơ sở khoa học về dịch vụ cảng biển 1.
Cơ sở lý luận về dịch vụ cảng biển 1. Khai quát vé dich vu Khai niém dich vu Dich vụ thường được đề cập đến với vị trí là một trong ba khu vực của nền kinh tế (cùng với Nông nghiệp và Công nghiệp). Trong cơ cấu của một nên kinh tế hiện đại, khu vực dịch vụ có vai trò ngày càng quan trọng. Chính vì vậy mà có rất nhiều tai liệu nghiên cứu đã ban đến các khía cạnh khác nhau của khu vực dịch vụ.
Tuy nhiên, có một thực tế cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất về dịch vụ được thtra nhận trên phạm vi toàn cầu. Thực tế này có thé bắt nguồn từ những đặc điểm chủ yếu của dịch vụ. Tính nhiều khi vô hình và khó nam bắt của dịch vu, tính da dạng, phong phú và phức tạp của các loại hình dịch vụ đã làm cho việc nêu ra một định nghĩa rõ ràng về dịch vụ trở nên khó khăn. Hơn nữa, các quốc gia khác nhau, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, có cách hiểu khác nhau về dịch vụ.
Đề rõ hơn sự khó khăn trong việc định nghĩa dịch vụ, chúng ta có thê thấy ngay cả Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ GATS của WTO cũng không đưa ra định nghĩa dịch vụ mà chỉ liệt kê dịch vụ thành 12 ngành lớn và 155 phân ngành khác nhau. Bất chấp sự khó khăn nêu trên, có thể căn cứ vào những đặc điểm nồi bat và những khác biệt giữa dịch vụ với hàng hóa dé đưa ra định nghĩa về dich vụ: Theo Giáo sư Philip Kotler - cha đẻ của marketing hiện đại, Trường đại học Northwestern, Hoa Ky cho rang: “Dich vụ là mọi hành động va kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyên sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thé có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chat”. Trong kinh tế học: Dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất.
Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình và những sản phẩm thiên hắn về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên đa số là những sản phẩm nằm trong khoảng giữa sản phẩm hàng hóa, dịch vụ PGS.TS Nguyễn Văn Thanh, Đại học Bách khoa Hà Nội, cho rằng: “Dich vụ là một hoạt động lao động sang tao nhằm bổ sung giả trị cho phân vật chất và làm da dạng hoá, phong phú hoá, khác biệt hoá, nổi trội hoá. mà cao nhất trở thành những thương hiệu, những nét văn hoá kinh doanh và làm hai lòng cao cho người tiêu dùng để họ săn sàng trả tiền cao, nhờ đó kinh doanh có hiệu quả hơn”. Nguyễn Thị Mơ (2005) định nghĩa rằng: “ Dịch vụ là các hoạt động của con người được kết tinh thành các loại sản phẩm vô hình và không thé cam nắm được”. Cũng theo các tiếp cận tương tự, TS.
Hồ Văn Tĩnh (2006) đã đưa ra định nghĩa: “Dịch vụ là toàn bộ các hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người mà sản pham của nó tồn tại dưới hình thái phi vật thể”. Quan niệm phổ biến khác cho rằng: “ Dịch vụ là những hoạt động mạng tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa không ton tại dưới dạng hình thái vật thé, nhằm thỏa man kịp thời, thuận lợi và hiệu quả hơn các nhu cầu trong sản xuất và đời sống con người”. (Nguyễn Thu Hang, 2004) Các định nghĩa nêu trên về dịch vụ về cơ bản giống nhau vì chúng đều nêu ra những đặc điểm cơ bản của địch vụ. Thứ nhất, dịch vụ là một sản phẩm, là quá kết quả của quá trình lao động và sản xuất nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người.
Thứ hai, khác với hàng hóa là vật hữu hình, dịch vụ nhiều khi là vô hình, là phi vật thé. Việc đưa một định nghĩa về dịch vụ rat quan trọng, bởi nó là nền tảng cơ bản dựa vào đó có thê đi sâu phân tích những vấn đề lý thuyết và những khía cạnh thực tiễn của dịch vụ. Đặc biệt, trong bối cảnh thương mại quốc tế về dịch vụ phát triển mạnh như hiện nay, việc đưa ra định nghĩa rõ ràng về dịch vụ không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định cơ sở cho các khái niệm khác nhau như đãi ngộ quốc gia hay đãi ngộ quốc tế trong thương mại dịch vụ, mà còn giúp hạn chế những khái niệm có tính chủ quan mà các đối tác thương mại có thể áp đặt cho nhau. Đề hiểu rõ hơn về định nghĩa về dịch vụ, chúng ta hãy xem xét những đặc điểm cơ bản của dịch vụ.
Phân loại dịch vụ Trên lý thuyết, tùy theo cách tiếp cận và mục đích nghiên cứu mà có nhiều cách phân loại dịch vụ khác nhau. Còn trên thực tiễn, cũng có nhiều cách phân loại dịch vụ khác nhau, chủ yếu dựa trên phương pháp thống kê các hoạt động dịch vụ diễn ra trong thực tế. Phần này đề cập đến một số cách phân loại dich vụ điển hình. Dịch vụ mang tính thương mại và địch vụ không mang tính thương mại: Dịch vụ mang tính chất thương mại là dịch vụ được thực hiện, được cung cấp nhằm mục đích kinh doanh dé thu lợi nhuận.
Dịch vụ không mang tính chất thương mai (dich vụ phi thương mai) là dịch vụ được cung cấp không nhằm mục đích kinh doanh, không vì thu lợi nhuận. Loại dịch vụ này bao gồm các loại dịch vụ công cộng thường do các đoàn thể, các tổ chức xã hội phi lợi nhuận, cung ứng hoặc do các cơ quan nhà nước khi các cơ quan này thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Dịch vụ về hàng hóa và địch vụ về tiêu dùng: Dịch vụ hàng hóa với hàm ý rằng các hoạt động này gan kết chặt chẽ với việc sản xuất, trao đôi và buôn bán các sản phẩm, hàng hóa trong nền kinh tế. Dich vụ tiêu dùng, là những dịch vụ được tiêu dùng trực tiếp bởi các cá nhân, các tổ chức nhằm phục vụ nhu cầu xã hội và thường không liên quan đến thương mại hàng hóa nhưng vẫn mang tính thương mại.
Phân ngành địch vụ theo WTO: Việc phân ngành dịch vụ của WTO dựa trên nguồn gốc ngành kinh tế. Toàn bộ khu vực dịch vụ được chia thành 12 ngành: dịch vụ kinh doanh, dịch vụ bưu 10 chính viễn thông, dịch vụ xây dựng và các dịch vụ kỹ thuật liên quan, dịch vụ phân phối, dịch vụ giáo dục, dịch vụ môi trường, dịch vụ tài chính, dịch vụ xã hội và liên quan đến sức khỏe, dịch vụ du lịch và lữ hành, dịch vụ giải trí văn hóa và thể thao, dịch vụ vận tải, và các dịch vụ khác không được thống kê ở trên. Mỗi ngành dịch vụ lại được chia ra thành các phân ngành, trong các phân nghành có liệt kê các hoạt động dịch vụ cụ thé có thé tham gia vào thương mại quốc tế. Việc liệt kê tất cả các loại hình dịch vụ có khả năng tham gia vào thương mại quốc tế là hết sức khó khăn do tính đa dạng, phong phú và phức tạp của khu vực dịch vụ.
Bất kỳ dịch vụ nao đang ton tại hoặc các dịch vụ mới sẽ xuất hiện trong tương lai, dù không được liệt kê trong danh mục của WTO, cũng sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh của WTO nếu dịch vụ ấy tham gia vào thương mại quốc tế. Những đặc điểm cơ bản của dịch vụ Tinh không hiện hữu (tính vô hình) và khó xác định: Quá trình sản xuất hàng hóa tao ra những sản phẩm hữu hình có tinh chất cơ, lý, hóa học. nhất định, có tiêu chuẩn kỹ thuật cụ thé, vì vậy có thé sản xuất theo tiêu chuẩn hóa. Khác với hàng hóa, sản phẩm dịch vụ một phan lớn không tồn tại dưới dạng vật chất, vì vậy không thé xác định chất lượng dịch vụ trưc tiếp bằng những chỉ tiêu kỹ thuật được lượng hóa.
Tính vô hình trong các loại hình dịch vụ không giống nhau. Do đó, các công tác lượng hóa, thống kê, đánh giá chất lượng và quy mô cung ứng dịch vụ của một doanh nghiệp và của cả quốc gia trở nên khó khăn hơn rất nhiều so với việc đánh giá chất lượng và quy mô cung ứng hàng hóa hữu hình. Có nhiều dịch vụ tính vô hình gần như chiếm tuyệt đối, trong khi nhiều dịch vụ khác tính vô hình lại khá thấp. Ví dụ: đối với các dịch vụ như giảng dạy, tư vấn, pháp luật.tính hữu hình gần như là số không.