phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục bảng, biểu và tài liệu tham khảo, đề tài có kết cấu 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về dịch vụ ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng về các dịch vụ của Agribank đối với DNNVV trên địa bàn huyện Đại Từ - Tỉnh Thái Nguyên. Chƣơng 4: Một số giải pháp phát triển dịch vụ của Agribank đối với DNNVV trên địa bàn huyện Đại Từ - Tỉnh Thái Nguyên. 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Các khái niệm cơ bản 1.
Dịch vụ ngân hàng DVNH hiện vẫn là khái niệm còn khá nhiều quan điểm nhìn nhận khác nhau. Nhƣng để hiểu về DVNH, trƣớc hết chúng ta cần phải hiểu thế nào là DV. Bản thân thuật ngữ DV cho đến nay cũng vẫn chƣa có một định nghĩa thống nhất. Tính đa dạng phức tạp, phi vật chất của các loại hình DV, làm cho việc thống nhất định nghĩa về DV trở nên khó khăn.
Ngay cả trên thế giới, ở mỗi quốc gia đều có những cách hiểu khác nhau về DV. Hiệp định chung về thƣơng mại dịch vụ (GATS) của Tổ chức thƣơng mại thế giới (WTO) cũng không nêu định nghĩa về DV, mà liệt kê DV thành 12 ngành lớn. Mỗi ngành lớn lại đƣợc chia ra các phân ngành, trong các phân ngành lại liệt kê các hoạt động DV cụ thể chi tiết. Theo định nghĩa ISO 2000 năm 2007, Dịch vụ là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa người cung cấp và khách hàng, cũng như nhờ các hoạt động của người cung cấp để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.
Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu và nhiều quan niệm khác nhau dựa trên tính chất của DV, nhƣng tựu trung lại: Dịch vụ là các lao động của con người được kết tinh trên giá trị của kết quả hay trong giá trị các loại sản phẩm vô hình và không thể cần nắm được. Cách hiểu này nêu đƣợc 2 đặc trƣng cơ bản của DV: Thứ nhất, DV là một sản phẩm; thứ hai, DV là phi vật chất, là vô hình, DV khác với hàng hoá (là hữu hình). Tính vô hình, phi vật chất là đặc điểm chính để phân biệt sản phẩm DV với các sản phẩm của ngành sản xuất khác trong các ngành kinh tế. Bởi là vô hình nên không thể sản xuất hàng loạt, nhập kho và sau đó dần đƣa vào tiêu 5 dùng.
Vì DV là vô hình, nên khung khổ pháp lý và chính sách để điều chỉnh rất khó xác lập chuẩn xác, mà hầu hết, luật pháp các nƣớc đều đặt khái niệm về DV trong khung khổ mở. DV đƣợc phân loại theo nhiều cách khác nhau, tuỳ theo mục đích nghiên cứu và góc độ nhìn nhận. Trong đó có một cách phân loại rất đáng quan tâm là căn cứ theo tính chất thƣơng mại dịch vụ, ngƣời ta phân biệt DV thành: DV mang tính chất thƣơng mại và DV không mang tính chất thƣơng mại. DV mang tính chất thƣơng mại là những DV đƣợc cung ứng nhằm mục đích kinh doanh để thu lợi nhuận.
DV không mang tính chất thƣơng mại là những DV đƣợc cung ứng không nhằm mục đích kinh doanh, không vì mục tiêu lợi nhuận mà vì mục tiêu cộng đồng, xã hội. Phân biệt rõ điều này rất quan trọng, trong hệ thống ngân hàng, tuy cũng là DV tín dụng, nhƣng của các ngân hàng thƣơng mại thì đó là DV mang tính chất thƣơng mại, ngƣợc lại của ngân hàng chính sách xã hội thì DV tín dụng lại không có mục tiêu đó. Trên lĩnh vực hoạt động tài chính - ngân hàng, DV tài chính cũng là một khái niệm chƣa có định nghĩa thống nhất. Theo WTO, một DV tài chính là bất kỳ DV nào có tính chất tài chính đƣợc một nhà cung cấp DV tài chính cung cấp.
DV tài chính bao gồm mọi DV bảo hiểm và DV liên quan tới bảo hiểm, mọi DVNH và DV tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm). Nhƣ vậy, nội hàm DV tài chính là gồm cả DV bảo hiểm; DVNH và DV tài chính khác. Ở Việt Nam, đến nay chƣa có sự minh định rõ ràng về khái niệm DVNH. Có không ít quan niệm cho rằng: DVNH không thuộc phạm vi kinh doanh tiền tệ và các hoạt động nghiệp vụ NH theo chức năng của một trung gian tài chính (cho vay, huy động tiền gửi…), chỉ những hoạt động không thuộc nội dung nói trên mới gọi là DVNH (nhƣ chuyển tiền, thu uỷ thác, mua bán hộ, môi giới kinh doanh chứng khoán…).
Một số khác lại cho rằng tất cả hoạt động NH phục vụ cho doanh nghiệp và công chúng đều là DVNH. Cũng có ý kiến cho rằng DVNH bao gồm 11 loại hình: nhận tiền gửi, cung cấp các 6 tài khoản giao dịch; quản lý tiền mặt; trao đổi ngoại tệ (DV ngoại hối); DV về tín dụng (chiết khấu thƣơng phiếu, cho vay tài trợ dự án, cho vay tiêu dùng); DV uỷ thác, cho thuê tài chính, tƣ vấn tài chính; các DV bảo hiểm; môi giới đầu tƣ chứng khoán; DV quỹ tƣơng hỗ và trợ cấp. Hiện nay ở nƣớc ta, chƣa có sự thống nhất về danh mục các chỉ tiêu về DVNH và cũng chƣa có điều tra thống kê về DVNH, nên chƣa bàn đến độ chính xác và tin cậy của các thông tin nói trên. Nhƣng cũng vì thế mà rất cần có sự nghiên cứu để đi đến tƣơng đối thống nhất DVNH gồm những yếu tố cấu thành nào.
Từ đó xem xét thực trạng, kế hoạch chủ trƣơng, lịch trình phát triển DVNH mới đƣợc sát hợp và nhất quán. Một số quan niệm cho rằng, DVNH cần đƣợc hiểu theo hai khía cạnh: rộng và hẹp. Theo nghĩa rộng thì cho rằng toàn bộ hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối… của hệ thống NH (bao gồm NHNN và các NHTM) đều là hoạt động cung ứng DV cho nền kinh tế. Quan niệm này phù hợp với cách phân ngành DVNH trong DV của WTO và của Hiệp định thƣơng mại Việt Nam – Hoa Kỳ, cũng nhƣ nhiều nƣớc phát triển.
Còn theo nghĩa hẹp thì cho rằng DVNH chỉ bao gồm những hoạt động ngoài chức năng của định chế tài chính trung gian huy động vốn và cho vay. Luật Các tổ chức tín dụng của Việt Nam có quy định về lĩnh vực DVNH của các NHTM, nhƣng không có định nghĩa và giải thích. Tại khoản 1 và khoản 7, điều 20, cụm từ “hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng” đƣợc bao hàm cả ba nội dung: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng DV thanh toán, tài khoản. Tuy nhiên đâu là kinh doanh tiền tệ và đâu là DVNH thì chƣa đƣợc phân định rõ ràng.
Trong Luật thƣơng mại, cho dù chƣa có định nghĩa và giải thích nhƣng Luật cũng đƣa ra một danh mục trong đó liệt kê 13 dịch vụ thƣơng mại, còn Luật Các tổ chức tín dụng chƣa có một danh mục nhƣ vậy. DVNH trong Luật Các tổ chức tín dụng bao gồm: DV thanh toán và ngân quỹ (Điều 65, mở tài khoản; Điều 66 DV thanh toán; Điều 67 DVNH; Điều 68 tổ chức và tham gia hệ thống 7 thanh toán); DV bảo hiểm (Điều 74. Khi luật nêu lên cụm từ “liên quan đến hoạt động ngân hàng” và “các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật” là đã có xu hƣớng hé mở, nhƣng lại chƣa mạnh dạn cho mở hẳn. Cách quy phạm nhƣ vậy có thể dẫn đến tình trạng làm chậm đổi mới trong nhận thức và chậm đổi mới tƣ duy pháp lý, tƣ duy thực tiễn, làm cho sự năng động sáng tạo của các tổ chức tín dụng bị giới hạn, bị hạn chế khi muốn đƣa ra những DV mới đáp ứng yêu cầu của công chúng.
Khái niệm Ngân hàng thương mại Ngân hàng thƣơng mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thƣờng xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phƣơng tiện thanh toán. Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trƣng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Việc đƣa ra một khái niệm chính xác về doanh nghiệp nhỏ và vừa là rất khó khăn.
Hiện nay, trên thế giới mỗi nƣớc lại có một khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa riêng của mình. Trong khu vực Đông Nam Á, Inđônêxia phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa dựa trên 3 tiêu thức là số lƣợng lao động, tổng giá trị tài sản và doanh thu; Singapo thì chỉ dựa vào số lƣợng lao động và tổng giá trị tài sản. 8 Trong khu vực Châu Á, Hồng Kông xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ dựa trên tiêu thức số lƣợng lao động, nhƣng số lƣợng lao động đặt ra cho các ngành là khác nhau, với ngành dịch vụ thì lƣợng lao động nhỏ hơn so với lƣợng lao động trong ngành công nghiệp. Cũng nhƣ vậy nhƣng Hàn Quốc chia theo thành 3 ngành, đó là các ngành: chế tạo máy và khai khoáng, xây dựng, dịch vụ.
Trên thế giới, Canada, Úc và Mỹ đều phân loại dựa vào số lƣợng lao động, nhƣng số lƣợng lao động làm tiêu chí thì ở mỗi nƣớc là khác nhau. Nhƣ vậy, ta thấy mặc dù có nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa thì 2 tiêu thức đƣợc sử dụng phổ biến nhất là số lƣợng lao động trung bình và tổng số vốn của doanh nghiệp. Tuy nhiên, khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa không chỉ đơn thuần phản ánh qui mô của doanh nghiệp mà nó còn bao trùm nội dung về kinh tế, tổ chức sản xuất, quản lý và tiến bộ khoa học công nghiệp. Tuỳ theo thực trạng về quy mô của các doanh nghiệp trong nền kinh tế của mỗi nƣớc khác nhau, trình độ phát triển của mỗi nền kinh tế có tính đến xu hƣớng phát triển trong thời gian tới mà các nƣớc có tiêu chí xác định riêng của mình.
Nhƣ vậy việc phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ mang tính tƣơng đối và nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố.