phần mở đầu, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục từ viết tắt và tài liệu tham khảo, nội dung đề tài gồm các phần chính sau: Chƣơng 1: Lý luận cơ bản về đầu tƣ theo chỉ số. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động đầu tƣ theo chỉ số tại Việt Nam. Chƣơng 3: Giải pháp phát triển đầu tƣ theo chỉ số tại Việt Nam. 3 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƢ THEO CHỈ SỐ 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƢ THEO CHỈ SỐ 1. Khái niệm đầu tư theo chỉ số Khi đầu tư trên TTCK, dựa theo mức sinh lời mục tiêu và khả năng chấp nhận rủi ro mà mỗi nhà đầu tư lựa chọn cho mình chiến lược đầu tư hay cách tiếp cận để phân tích đầu tư và lựa chọn chứng khoán phù hợp. Các chiến lược đầu tư bao gồm chiến lược đầu tư chủ động, chiến lược đầu tư thụ động và chiến lược đầu tư bán chủ động. Trong đó, đầu tư theo chỉ số là một trong những hình thức đầu tư thụ động phổ biến nhất.
Trong cuốn Managing Investment Portfolios – A Dynamic Process Third Edition của tác giả John L. Pinto, CFA đã đưa ra khái niệm về đầu tư theo chỉ số “Đầu tư theo chỉ số là một phương thức đầu tư thụ động phổ biến mà nhà quản lý nắm giữ một danh mục chứng khoán được thiết kế để mô phỏng mức sinh lời của một chỉ số chứng khoán xác định”. Như vậy có thể định nghĩa đầu tư theo chỉ số là việc nhà đầu tư hay nhà quản lý danh mục đầu tư nắm giữ một danh mục chứng khoán sao cho mức sinh lời của danh mục tương đương với mức sinh lời của một chỉ số tham chiếu trong khoảng thời gian đầu tư. Phương thức đầu tư này còn được biết đến như là phương thức đầu tư thụ động theo đó nhà quản lý danh mục đầu tư mong muốn theo kịp thị trường chứ không cố gắng để đạt được mức sinh lời vượt trội đánh bại thị trường.
Nhà quản lý danh mục chỉ cần xây dựng và nắm giữ danh mục sao cho các chứng khoán thành phần có tỷ trọng gần giống với chỉ số chuẩn nhất mà không cần đến những kỹ năng như lựa chọn chứng khoán và lựa chọn thời điểm đầu tư. Đầu tư theo chỉ số thường được xem là một chiến lược mua và nắm giữ trong thời gian dài, nhà quản lý danh mục chỉ cần thiết phải định kỳ tái cân bằng lại danh mục khi cơ cấu chứng khoán trong chỉ số cơ sở thay đổi hay có những khoản tiền lãi cần được tái đầu tư. Khác với những hình thức đầu tư khác, như với phương thức đầu tư chủ động, nhà quản lý danh mục sẽ nắm giữ một danh mục chứng khoán khác danh 4 mục của chỉ số chuẩn với mong muốn có được mức sinh lời vượt trội. Nhà quản lý danh mục đầu tư cần thiết phải kết hợp các kỹ năng phân bổ tài sản, lựa chọn chứng khoán và lựa chọn thời điểm đầu tư.
Nhà quản lý danh mục phải thường xuyên theo dõi biến động nền kinh tế, thị trường kết hợp với những phân tích cơ bản, phân tích kỹ thuật để đưa ra những quyết định phù hợp trong việc xây dựng và duy trì danh mục đầu tư. Hay với phương thức đầu tư bán chủ động, nhà quản lý danh mục tìm kiếm mức sinh lời vượt trội so với chỉ số chuẩn trong khi vẫn theo sát mức rủi ro của danh mục chuẩn. Nhà quản lý thay đổi tỷ trọng các chứng khoán trong danh mục chuẩn hay cấu thành danh mục theo hướng mà nhà quản lý cho rằng sẽ có lợi dựa trên những phân tích về chứng khoán của mình. Chỉ số chứng khoán 1.
Khái niệm và vai trò Chỉ số chứng khoán là một chỉ tiêu thống kê phản ánh sự thay đổi giá của các chứng khoán cấu thành chỉ số được giao dịch trên thị trường, chỉ số có thể đại diện cho một thị trường cụ thể hay phân khúc của thị trường đó. Chỉ số chứng khoán đo lường mức sinh lời của các chứng khoán cấu thành nên chỉ số. Chỉ số chứng khoán từ khi ra đời luôn đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của TTCK. Chỉ số được dùng như một thước đo, chuẩn mực để đánh giá hiệu quả hoạt động của một danh mục đầu tư.
Việc đánh giá kết quả đầu tư của một danh mục đầu tư không chỉ đơn giản nhìn vào mức lợi suất tuyệt đối của danh mục mà còn cần được so sánh trong mối tương quan giữa danh mục và các chỉ số thị trường hay chỉ số của một nhóm chứng khoán. Mức sinh lời của chỉ số đóng vai trò như mức lợi suất tham chiếu, chỉ tiêu tối thiểu hoặc chỉ tiêu mục tiêu đặt ra cho nhà quản lý khi xây dựng danh mục đầu tư. Bên cạnh đó, chỉ số chứng khoán còn là một chỉ tiêu vĩ mô quan trọng phản ánh sức khỏe của nền kinh tế quốc gia, được xem là chỉ báo thị trường thể hiện tình hình hoạt động của TTCK. Đây là thông tin quan trọng đối với hoạt động của thị trường, của các nhà đầu tư cũng như các nhà phân tích kinh tế trong việc theo dõi diễn biến thị trường.
Chỉ số tăng có nghĩa là mức giá chung của thị trường tăng và ngược lại. Đặc biệt, nếu chỉ số tăng quá nóng hoặc ở một trạng thái khác là giảm 5 sút liên tục, điều này là một chỉ báo rõ ràng cho thấy nền kinh tế đang ở tình trạng tăng trưởng tốt hoặc suy giảm mạnh (sau khi loại trừ các yếu tố đầu cơ, thao túng giá chứng khoán). Chức năng trên của chỉ số thị trường có được là do các chỉ số này phản ánh được tình hình và kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp niêm yết và biến động giá chứng khoán của các doanh nghiệp này phát hành được giả định là đã phản ánh đầy đủ các yếu tố tài chính và phi tài chính trên thị trường. Chỉ số giúp nhà đầu tư tạo lập những danh mục đầu tư hiệu quả.
Nhà đầu tư có thể sử dụng chỉ số như cơ sở để lựa chọn ra những chứng khoán phù hợp với mục tiêu đầu tư của mình. Ví dụ như khi nhà đầu tư quan tâm đến tiêu chuẩn giá trị vốn hóa và thanh khoản của chứng khoán, nhà đầu tư có thể lựa chọn chứng khoán thành phần của các chỉ số tập hợp những chứng khoán có giá trị vốn hóa và thanh khoản hàng đầu hiện có, hay khi nhà đầu tư quan tâm đến một ngành kinh tế cụ thể, nhà đầu tư có thể lựa chọn chứng khoán của chỉ số ngành tương ứng. Chỉ số ngoài tác dụng phản ánh tâm lý thị trường, tiêu chuẩn để đo lường hiệu quả quản lý đầu tư, đo lường lợi tức và rủi ro của thị trường, còn được sử dụng để tạo ra các sản phẩm liên quan đến chỉ số như danh mục mẫu cho các quỹ đầu tư chỉ số hay chứng khoán phái sinh… 1. Các loại chỉ số chứng khoán Dựa trên tiêu chí danh mục hàng hóa, chỉ số chứng khoán được chia thành chỉ số cổ phiếu và chỉ số trái phiếu.
- Chỉ số cổ phiếu là chỉ số đo lường biến động giá của một danh mục cổ phiếu xác định. - Chỉ số trái phiếu là chỉ số đo lường biến động giá của một danh mục trái phiếu xác định. Dựa trên tiêu chí có tái đầu tư cổ tức (trái tức), chỉ số được chia thành chỉ số giá và chỉ số lợi nhuận. - Chỉ số giá được tính toán dựa trên giá của chứng khoán mà không tính đến cổ tức hay trái tức được tái đầu tư.
- Chỉ số lợi nhuận được tính toán dựa trên giá của chứng khoán bao gồm cả thu nhập từ chứng khoán được tái đầu tư. Cách xây dựng chỉ số chứng khoán Để xây dựng và quản lý chỉ số, nhà tạo lập chỉ số cần xác định những yếu tố sau đây: Phạm vi thị trường mục tiêu Những nhà tạo lập chỉ số cần xác định thị trường chứng khoán mục tiêu mà chỉ số đo lường mức độ biến động. Thị trường mục tiêu có thể là toàn bộ thị trường chứng khoán hay một phân khúc của thị trường. Thị trường mục tiêu có thể được phân loại theo vùng địa lý hay ngành kinh tế.
Xác định phạm vi, quy mô rổ đại diện Các chứng khoán trong chỉ số có thể là toàn bộ chứng khoán của thị trường mục tiêu hay một số chứng khoán mẫu đại diện cho thị trường. Tập hợp các chứng khoán trong tính toán chỉ số phải đại diện cho một tỷ lệ đáng kể trong tổng số giá trị thị trường bởi vì rổ tính toán càng lớn, tính đại diện cho tổng thể càng cao. Song chi phí và mức độ phức tạp để duy trì chỉ số cũng lớn hơn. Xác định đặc điểm, tiêu chuẩn lựa chọn chứng khoán trong chỉ số Tiêu chuẩn lựa chọn chứng khoán là những đặc điểm cụ thể cho việc lựa chọn chứng khoán tạo nên chỉ số trong các chứng khoán của thị trường mục tiêu.
Các tiêu chí thường gặp trong việc lựa chọn chứng khoán có thể kể đến như quy mô giá trị vốn hóa thị trường, tính thanh khoản dựa trên giá trị giao dịch bình quân, hay hiệu quả hoạt động, vị thế của công ty… Lựa chọn phương pháp tính chỉ số hay cách tính tỷ trọng chứng khoán phù hợp Để thực hiện tính toán chỉ số, nhà tạo lập chỉ số cần thiết phải lựa chọn một phương pháp tính trọng số chứng khoán thích hợp dựa trên việc xem xét đánh giá những ưu nhược điểm của từng phương pháp sao cho phù hợp với đặc điểm của chứng khoán cấu thành chỉ số. Bốn phương pháp xác định trọng số thông thường là trọng số theo giá, trọng số giá trị thị trường, trọng số giá trị thị trường điều chỉnh và trọng số bằng nhau. 7 Quy tắc để duy trì chỉ số khi các thành phần cấu thành chỉ số thay đổi Để duy trì chỉ số, người tạo lập chỉ số cần trả lời câu hỏi khi nào cần tái cân bằng chỉ số, khi nào thì việc lựa chọn và tính toán tỷ trọng chứng khoán cần được kiểm tra lại. Tái cân bằng chỉ số đề cập đến việc điều chỉnh tỷ trọng của chứng khoán đảm bảo tỷ trọng yêu cầu trong chỉ số khi giá thay đổi làm ảnh hưởng đến tỷ trọng của chúng.
Trong tính toán chỉ số, tái cân bằng được thực hiện định kỳ, thông thường là theo quý. Tái cơ cấu chỉ số đề cập đến việc định kỳ thêm và bớt chứng khoán trong chỉ số. Chứng khoán sẽ bị loại khỏi danh mục nếu nó không còn đáp ứng được tiêu chuẩn của chỉ số và được thay thế bởi các chứng khoán đạt chuẩn khác.