Phần mở đầu Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở khoa học về phát triển công nghiệp hỗ trợ Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu và khung nghiên cứu Chƣơng 3 : Phân tích thực trạng phát triển công nghiệp hỗ trợ tại tỉnh Bắc Ninh Chƣơng 4: Đề xuất giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ tại tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới 4 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới, cũng đã có nhiều nghiên cứu về công nghiệp hỗ trợ ở các nƣớc, đặc biệt là các nƣớc đang phát triển. Có thể kể đến nghiên cứu kinh nghiệm phát triển công nghiệp hỗ trợ ở châu Á của Tổ chức Năng suất châu Á (APO, 2002), nghiên cứu về liên kết và hợp tác giữa các doanh nghiệp của Rendon (2000).
Cũng có một số các nghiên cứu về chính sách và thể chế phát triển công nghiệp ở các nƣớc nhƣ Thái Lan (Lauridsen, 2000). Uỷ Ban đầu tƣ Thái Lan (Thailand Board of Investment) cũng đã xây dựng cơ sở dữ liệu các ngành công nghiệp hỗ trợ các nƣớc Đông Nam Á (ASEAN) nhằm thu hút các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài vào khu vực này. Tuy nhiên, phần thông tin về Việt nam trên trang web này hầu nhƣ chƣa có gì. Do đó, có thể thấy rằng các nghiên cứu này không tập trung đi sâu phân tích công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam nên chƣa phản ánh đƣợc những nét đặt thù của nƣớc ta, chƣa có giá trị tham khảo.
Các nghiên cứu về công nghiệp hỗ trợ có liên quan trực tiếp đến Việt Nam đƣợc kể đến là: Kenichi Ohno (editor), “Building supporting industies in Viet Nam”, VDF, 2007. Nghiên cứu đƣợc đăng tải trên diễn đàn phát triển Việt Nam (VDF), thể hiện mối quan tâm đặc biệt của các nhà đầu tƣ Nhật Bản đối với phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam. Bài nghiên cứu gồm 4 phần: phần 1 nêu đƣợc tổng quan CNHT của Việt Nam từ quan điểm của các công ty Nhật Bản và đƣa ra những chính sách tác động trực tiếp tới CNHT Việt Nam, nhấn mạnh vào ba yếu tố quyết định tới sự phát triển của CNHT (chất lƣợng, chi phí và sự phân phối); phần 2 đƣợc viết dƣới quan điểm của Nguyễn Thị Xuân Thủy, chủ yếu tập trung vào xem xét khái niệm khác nhau 5 z của các nƣớc có ngành CNHT phát triển trong khu vực nhƣ Thái Lan, Nhật Bản. về "Ngành CNHT", sự phát triển của họ, và sau đó đƣa ra một định nghĩa cho Việt Nam; phần 3 phân tích định lƣợng của cơ cấu thu mua CNHT trong ASEAN 4, Hàn Quốc và Nhật Bản đƣợc viết bởi Toshiyuki Baba; phần 4 xây dựng một hệ thống thiết kế và Quản lý cơ sở dữ liệu CNHT - một hệ thống mà Việt Nam còn rất yếu kém trong việc quản lý.
Kenichi Ohno – Nguyễn Văn Thƣởng, “Hoàn thiện chiến lƣợc phát triển công nghiệp Việt Nam”, NXB Lý luận chính trị, 2005. Đây là kết quả hợp tác giữa Đại học kinh tế quốc dân và Viện nghiên cứu chính sách Nhật Bản. Với mục tiêu phục vụ cho xây dựng chiến lƣợc công nghiệp, cuốn sách tập hợp nhiều nghiên cứu nhỏ chính sách công nghiệp và thực trạng một số ngành công nghiệp ở Việt Nam. Trong đó, đáng chú ý có nghiên cứu của Kyoshiro Ichikawa về xây dựng và tăng cƣờng ngành công nghiệp hỗ trợ.
Nghiên cứu của Kyoshiro Ichikawa đã đƣa ra quan niệm căn bản về CNHT tại Việt Nam, với những nhấn mạnh cần nên hiểu thế nào là CNHT. Junichi Mori, “Development of Supporting Industries for Vietnam’s Industrialization: Increasing positive vertical externalities through collaborative training”. Đây là luận văn Thạc sĩ tại trƣờng Fletcher thuộc Đại học Tufts (Hoa Kỳ), nghiên cứu khá công phu trên ba khía cạnh có ý nghĩa đối với quá trình công nghiệp hóa ở Việt Nam: lý thuyết về CNHT, kinh nghiệm phát triển CNHT ở Malaysia, chiến lƣợc hợp tác đào tạo. Từ đó rút ra đƣợc những bài học kinh nghiệm quý giá cho Việt Nam đặc biệt trong lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực.
Tuy nhiên, bài nghiên cứu cũng chỉ giới hạn trong một khía cạnh của toàn bộ hệ thống CNHT là nguồn nhân lực và khảo sát đến năm 2005, bên cạnh yếu tố đó còn nhiều yếu tố khác nhƣ vốn, chuyển giao công nghệ. tác giả không đề cập đến, đặc biệt ngành CNHT của công nghiệp ô tô và trải qua các năm ngành CNHT đều có sự thay đổi. 6 z Hisami Mitarai (2005), Issues in electrical and electronic industries of ASEAN countries and experiences for Vietnam (Các vấn đề trong ngành công nghiệp điện và điện tử của các nƣớc ASEAN và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam), phân tích những vấn đề nảy sinh trong quá trình phát triển gần đây của ngành công nghiệp điện, điện tử của Thái Lan, Malaysia, Indonesia và Philipine, cung cấp các bài học kinh nghiệm tham khảo cho Việt Nam trong quá trình hình thành và phát triển ngành công nghiệp điện tử. Trong các nghiên cứu trên phần thông tin về công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam gần nhƣ không có nên chƣa phản ánh đƣợc rõ nét đặc thù của Việt Nam.
Mặc dù vậy, những tài liệu trên là nguồn tài liệu rất cần thiết để thực hiện luận văn này. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam Trong nghiên cứu chiến lƣợc phát triển công nghiệp Việt Nam, Nguyễn Kế Tuấn (2004) đã đề cập tới vai trò của ngành công nghiệp hỗ trợ đối với quốc gia đang phát triển nhƣ Việt Nam là hết sức quan trọng. Công nghiệp hỗ trợ là điều kiện quan trọng đảm bảo tính chủ động và nâng cao giá trị gia tăng của ngành sản xuất sản phẩm thuộc khu vực hạ nguồn, giảm xuất khẩu sản phẩm thô và nhập khẩu nguyên phụ liệu, mở rộng khả năng thu hút FDI, và góp phần tạo việc làm và thu nhập cho ngƣời lao động. Theo tác giả, để phát huy hiệu quả ngành công nghiệp hỗ trợ thì nhà nƣớc cần tập trung vào những ngành trọng điểm trong từng giai đoạn nhất định.
Tập trung đầu tƣ phát triển loại công nghiệp hỗ trợ có nhu cầu lớn, trình độ công nghệ không cao chẳng hạn nhƣ may mặc, giày dép, thực phẩm,.Tiếp đến là tập trung đầu tƣ theo chiều sâu, đổi mới công nghệ theo hƣớng hiện đại hoá, trình độ công nghệ phức tạp và đòi hỏi lƣợng vốn đầu tƣ lớn, thời hạn xây dựng lâu dài nhƣ công nghiệp dệt sợi, sản xuất phôi thép, phụ tùng cho công nghiệp ôtô, xe máy,. Đồng thời chuẩn bị những điều kiện cần thiết để đầu tƣ phát triển những 7 z ngành công nghiệp hỗ trợ có nhu cầu lớn, trình độ công nghệ phức tạp và có thời hạn xây dựng dài hạn nhƣ phụ tùng, chi tiết linh kiện phức tạp của công nghiệp ôtô, xe máy, điện tử dân dụng, vải sợi cao cấp. Cũng trong nghiên cứu này, tác giả đã có những ngụ ý chính sách rằng, Nhà nƣớc cần định hƣớng trong dài hạn cần xác định loại nguyên liệu nào nhập khẩu từ bên ngoài theo “các quan hệ kinh tế”, loại nào cần và có thể đầu tƣ trong nƣớc. Chính vì vậy, tác giả đã đề xuất chính sách nội địa hoá phải đi kèm với chính sách hạn chế nhập khẩu sản phẩm hoàn chỉnh và các phụ tùng, phụ liệu trong diện nội địa hoá.
Tuy nhiên, những chính sách này chỉ phù hợp với những “nền kinh tế đóng” chứ không phù hợp trong điều kiện hội nhập đòi hỏi cạnh tranh minh bạch. Nó chỉ phục vụ cho các doanh nghiệp bán trong thị trƣờng nội địa, thiếu động lực đổi mới đối với doanh nghiệp và không có tính chiến lƣợc phát triển về mặt dài hạn. Nghiên cứu điều tra của JETRO về ngành công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam, Ichikawa K. (2004) cho thấy những ý kiến cho rằng ngành công nghiệp hỗ trợ không tồn tại ở Việt Nam là thiếu xác thực, trái lại nó đã có dấu hiệu thai nghén và bắt đầu phát triển.
Có 3 dấu hiệu dẫn chứng cho điều này đó là: cải cách doanh nghiệp nhà nƣớc đang đƣợc tiến hành nhanh chóng, sự gia tăng nhanh các doanh nghiệp tƣ nhân, và luồng vốn đầu tƣ nƣớc ngoài đang tăng mạnh. Theo kết quả điều tra phỏng vấn 19 Bộ và cơ quan của Chính phủ cùng 59 doanh nghiệp (bao gồm cả doanh nghiệp nhà nƣớc, tƣ nhân và FDI), nhóm nghiên cứu đã đƣa ra kết luận rằng ngành xe máy và điện tử gia dụng sẽ là ngành công nghiệp trụ cột và tiên phong trong việc thúc đẩy các ngành công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam bởi đây là những ngành có qui mô sản xuất lớn, tỷ lệ nội địa hóa của những ngành này đạt khoảng 70 tới 80%. Từ việc nghiên cứu và giải quyết những vấn đề hạn chế từ hai ngành trên để từ đó thúc đẩy phát triển những ngành khác nhƣ thiết bị nghe nhìn tiêu dùng và sản xuất 8 z ôtô. Bên cạnh việc tích cực đẩy mạnh cải cách doanh nghiệp nhà nƣớc, thúc đẩy và hỗ trợ doanh nghiệp tƣ nhân, tăng cƣờng đào tạo đội ngũ kỹ sƣ từ bậc trung cấp tới cao cấp, nghiên cứu cũng ngụ ý rằng để phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ không nên “ép buộc” công ty lắp ráp nâng cao tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm thông qua việc đánh thuế cao vào linh kiện nhập khẩu có thể có tác động tiêu cực tới sự tăng trƣởng của những ngành này, thay vì làm điều này, nhà nƣớc có thể sử dụng các công cụ khác để khuyến khích các doanh nghiệp nội địa có khả năng liên kết và đáp ứng đƣợc yêu cầu của các công ty lắp ráp.
Trong một nghiên cứu khác về sự biến động của kinh tế Đông Á và con đƣờng công nghiệp hóa của Việt Nam, Trần Văn Thọ (2005) cho rằng, Việt Nam đang đứng trƣớc một thử thách lớn và phải tiến hành công nghiệp hóa trong điều kiện phải tự hóa thƣơng mại với các nƣớc trong khu vực và thế giới. Tuy nhiên, khả năng cạnh tranh của hàng công nghiệp Việt Nam còn yếu nhất là những ngành sản xuất các loại máy móc. Với những chính sách và cơ cấu công nghiệp hiện có, tác giả khẳng định rằng công nghiệp Việt Nam không thể thay đổi đƣợc tình hình trƣờng hợp tìm một mũi đột phá chiến lƣợc và dồn tất cả năng lực về chính sách cho mũi đột phá đó: đó chính là ngành công nghiệp hỗ trợ. Tại thời điểm này, công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam quá yếu, các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ của doanh nghiệp nhà nƣớc sản xuất phần lớn là sản phẩm có chất lƣợng thấp và giá thành cao (do công nghệ lạc hậu và quản lý kém,.