CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ NGÀNH CƠ KHÍ CHẾ TẠO TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1.1 Tổng quan về Công nghiệp hỗ trợ 1.1 Khái niệm Công nghiệp hỗ trợ 1.1 Khái niệm “Công nghiệp hỗ trợ” Cụm từ tiếng Anh “supporting industry” được bắt gặp khá nhiều trong các tài liệu tiếng Việt viết về CNHT và thường được dịch ra theo hai cách là “công nghiệp hỗ trợ” hoặc là “công nghiệp phụ trợ”. Theo (Ohno, Kenichi 2007) thì đây là một cụm từ Anh – Nhật được các DN Nhật Bản sử dụng từ lâu trước khi nó trở thành một thuật ngữ chính thức. Thuật ngữ này trở nên thông dụng ở Nhật Bản khoảng vào giữa những năm 1980 khi được chính phủ Nhật Bản sử dụng trong các văn bản và tài liệu của mình và do làm sóng đầu tư sang các quốc gia châu Á khác của Nhật đã biến khái niệm này bắt đầu được sử dụng rộng rãi. Mặc dù vậy thuật ngữ này đến nay vẫn rất mơ hồ và không có một định nghĩa thống nhất.1 Khái niệm chung ngành công nghiệp hỗ trợ Nguồn: Ichikawa, 2004 Xét trên nghĩa tổng quát nhất, CNHT là thuật ngữ chỉ một hệ thống sản xuất, cung cấp những yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất sản phẩm cuối cùng (Hoàng Văn Châu, 2010).
Trong sản xuất hiện đại ngày nay trong một thế giới phẳng, quá trình chuyên môn hóa diễn ra sâu sắc, bất kể cộng đồng, nền kinh tế hay biên giới lãnh thổ quốc gia TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 thì các linh kiện, phụ tùng, bán thành phẩm đều được sản xuất ra bên ngoài nhà máy lắp ráp thành sản phẩm cuối cùng. Tất cả hệ thống này tạo nên ngành CNHT. Theo nghĩa hẹp, CNHT gắn với chức năng cung cấp linh kiện, phụ tùng và công cụ cho một số ngành công nghiệp nhất định (Ohno, Kenichi 2007). Ví dụ CNHT của công nghiệp xe máy cung cấp các nguyên liệu đầu vào và qui trình sản xuất chúng, và các dịch vụ cho các nhà lắp ráp xe máy.
Tuy nhiên CNHT cũng được hiểu rộng hơn thế và không có ranh giới cụ thể. Một xu hướng dễ nhận thấy là một nhà cung cấp có thể sản xuất và cung ứng linh kiện cho các khách hàng ở nhiều ngành sản xuất khác nhau. Ví dụ như một nhà máy sản xuất thép có thể cung ứng sản phẩm của mình cho ngành đóng tàu, ô tô, cơ khí, điện - điện tử. Nói cách khác có một sự giao thoa giữa các ngành sản xuất khác nhau trong việc sử dụng hệ thống cung cấp hỗ trợ.
Điều này có nghĩa là để hoạch định được chính sách phù hợp thì phạm vi của CNHT cần phải được các nhà hoạch định chính sách qui định một cách cụ thể và mang tính chiến lược nhằm đảm bảo sự tương thích giữa định nghĩa với mục tiêu mà chính sách ấy theo đuổi (Ohno, Kenichi 2007).2 Phạm vi của công nghiệp hỗ trợ theo MITI Nguồn: Hiệp hội DN hải ngoại Nhật Bản, JOEA(1994:19) trích bởi Ohno, Kenichi 2007 Việc sử dụng khái niệm rộng hẹp như thế nào hoàn toàn phụ thuộc vào tính chủ quan và mục đích của người sử dụng chúng, thông thường ở tầm vĩ mô, nghĩa rộng của khái niệm gắn với chiến lược phát triển công nghiệp quốc gia tổng thể. Ở tầm hoạch định ngành hoặc vi mô, nghĩa hẹp của khái niệm có giá trị xác định nội hàm chuỗi cung ứng cụ thể, gắn liền với phát triển ngành – sản phẩm để có chiến lược phát triển phù hợp. Hai cấp độ khái niệm này hoàn toàn không loại trừ nhau mà giao thoa nội hàm và bổ sung cho nhau (Trần Đình Thiên, 2012). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 Bộ Kinh tế, thương mại và công nghiệp Nhật Bản (METI) định nghĩa về CNHT trong Chương trình phát triển CNHT châu Á (1993) là “các ngành công nghiệp cung cấp các yếu tố cần thiết như nguyên vật liệu thô, linh kiện và vốn,… cho các ngành công nghiệp lắp ráp (bao gồm ô tô, điện và điện tử)” (Lê Thế Giới, 2010, trang 20) Hình 1.3 Công nghiệp hỗ trợ theo quan điểm của Nhật Bản.Mori, 2005 trích bởi Hoàng Văn Châu, 2010 Việt Nam tiếp nhận thuật ngữ “Công nghiệp hỗ trợ” tương đối muộn.
Thời kỳ tập trung bao cấp và lấy phát triển công nghiệp nặng làm nền tảng công nghiệp, các DN quốc doanh sản xuất xe đạp, xe máy, máy nông nghiệp, ô tô cũng đòi hỏi lượng đầu vào trên qui mô rộng, nhưng Việt Nam thời kỳ đó chưa có một khái niệm nào về CNHT, quy trình sản xuất linh phụ kiện được sản xuất ra trong cùng một DN theo cách thức tổ chức công nghiệp tích hợp theo chiều dọc. Sản phẩm được sản xuất ra từ các linh phụ kiện được sản xuất trong cùng một DN từ A tới Z. Sau khi hội nhập lại với nền kinh tế khu vực và thế giới, khi các nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu vào Việt Nam từ giữa những năm 1990, họ gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm những nhà cung cấp sản phẩm đầu vào đáp ứng được yêu cầu về chất lượng và dịch vụ. Nhằm giúp Việt Nam cải thiện môi trường kinh doanh và đầu tư, Nhật Bản đã hỗ trợ thông qua dự án Ishikawa (1995) và Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản (2003).
Sáng kiến này bao gồm việc xây dựng qui hoạch tổng thể phát triển CNHT, lập cơ sở dữ liệu về CNHT và thành lập khu công nghiệp cho CNHT. Những chương trình này mang lại lợi ích cho cả hai bên, trong khi Việt Nam có thể thu hút được nhiều đầu tư nước ngoài nhằm tranh thủ nguồn vốn, công nghệ và kỹ năng quản lý tiên tiến từ các TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 công ty FDI, thì các công ty này sẽ được hưởng môi trường đầu tư và kinh doanh tốt hơn. (Nguyễn Thị Dung Huệ, 2013) Tài liệu có tính pháp lý chính thức mới nhất ở Việt Nam về CNHT được đưa ra trong Qui hoạch tổng thể phát triển các ngành CNHT đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 của bộ công thương Việt Nam được thủ tướng ký ban hành tháng 12 năm 2011 (Thủ tướng Chính phủ, 2011a) trong đó CNHT được định nghĩa như sau: Hình 1.4 Cơ cấu – Phạm vi của công nghiệp hỗ trợ Nguồn: Ohno, Kenichi 2007 i) Công nghiệp hỗ trợ: Là các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu, linh kiện phụ tùng, bán thành phẩm để cung cấp cho ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh là tư liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng. ii) Sản phẩm công nghiệp hỗ trợ gồm: vật liệu, phụ tùng, linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm để cung cấp cho khâu lắp ráp, sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh.
iii) Dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ là dự án đầu tư tại Việt Nam (kể cả đầu tư mới và đầu tư bổ sung) để sản xuất sản phẩm CNHT. Công nghiệp hỗ trợ là cần thiết cho cả các ngành công nghiệp chế tạo như sản xuất ô tô, xe máy, điện tử, cơ khí cũng như các ngành công nghiệp chế biến như may mặc, da giày, nhưng CNHT của mỗi ngành này lại có những đặc điểm khác nhau, yêu cầu khác nhau, thậm chí mục đích khác nhau trong từng giai đoạn phát triển của ngành. Do đó, một định nghĩa mang tính chất bao quát chung chung cần được làm rõ ràng hơn, cụ thể hơn khi đi vào xây dựng chính sách cho từng ngành cụ thể nhằm đạt được tính khả thi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 chính sách cao hơn. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa như hiện nay mà Việt Nam không thể tách rời, đặc biệt với nguồn ngân sách hạn hẹp, nền móng công nghiệp còn đang trong quá trình hoàn thiện thì khái niệm hẹp về CNHT cần được nhấn mạnh nhiều hơn để có được sự thực dụng trong chính sách và hành động nhằm huy động tối đa mọi nguồn lực để xây dựng và phát triển các sản phẩm CNHT cụ thể, theo qui trình một cách hiệu quả.
Nhận định trên căn cứ vào hiện trạng phát triển CNHT của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là phù hợp và để đạt được tính phù hợp, tính khả thi khi soạn thảo chính sách về CNHT cũng như hành động để đạt được các mục tiêu chính sách ấy. Với phạm vi nghiên cứu là Công nghiệp hỗ trợ chỉ cho ngành cơ khí chế tạo và giới hạn trên địa bàn của tỉnh Bình Dương, tác giả nhận thấy rằng sẽ hợp lý hơn nếu tiếp cận về công nghiệp hỗ trợ ở khái niệm hẹp ở tầm hoạch định ngành hoặc vi mô. Nghĩa hẹp của khái niệm có giá trị xác định nội hàm chuỗi cung ứng cụ thể, gắn liền với phát triển ngành cơ khí chế tạo và có các sản phẩm cụ thể sẽ là thích hợp hơn để có chiến lược phát triển phù hợp. Do vậy, tác giả đề xuất lấy định nghĩa của Ohmo định nghĩa về CNHT làm cơ sở nền tảng xuyên suốt luận văn này, tức Công nghiệp hỗ trợ “là một nhóm các hoạt động công nghiệp cung cấp các đầu vào trung gian (gồm linh kiện, phụ tùng và các công cụ để sản xuất ra các linh kiện, phụ tùng này) cho các ngành công nghiệp lắp ráp, chế tạo và chế biến” (Ohno, Kenichi 2007, trang 39) Mối quan hệ giữa công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp chính được thể hiện như sau: Hình 1.5 Quan hệ giữa công nghiệp chính và công nghiệp hỗ trợ Nguồn: Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Các khái niệm liên quan Công nghiệp liên quan và hỗ trợ Thuật ngữ “công nghiệp liên quan và hỗ trợ” (related and industries) được M.
Porter sử dụng như là một yếu tố quyết định của lợi thế cạnh tranh quốc gia. Trong cuốn “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” (M.Porter, 1990), ông giới thiệu mô hình kim cương gồm bốn yếu tố chính liên kết chặt chẽ với nhau tạo nên lợi thế cạnh tranh và có thể áp dụng cho các quốc gia, vùng và các ngành công nghiệp.6 Mô hình viên kim cương của Porter về lợi thế cạnh tranh của các quốc gia Nguồn: M. Porter, 1990 Trong bốn yếu tố này, “công nghiệp liên quan và hỗ trợ” được định nghĩa là “sự tồn tại của ngành công nghiệp cung cấp và ngành công nghiệp liên quan có năng lực cạnh tranh quốc tế”. Ông chia yếu tố này thành hai phần, gồm CNHT và công nghiệp liên quan.