Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. T ình hình nghiên cứu ở nước ngoài Luận án phân loại các nghiên cứu ở nước ngoài đã được xã hội hoá thành ba nhóm chủ đề: Thứ nhất: những báo cáo, bài viết, công trình nghiên cứu, kỷ yếu hội thảo, tọa đàm về khái niệm, quan niệm, cơ sở lý luận của vấn đề phát triển ngành công nghiệp và dịch vụ văn hoá trong bối cảnh toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế và trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường. Thứ hai: những báo cáo, bài viết, công trình nghiên cứu, kỷ yếu hội thảo, tọa đàm tổng kết thực tiễn thế giới và của một số quốc gia tiêu biểu trong khu vực đã có những thành công nhất định trong phát triển ngành công nghiệp và dịch vụ văn hoá của mình, như Trung Quốc, Nhật bản, Hàn Quốc, Thái Lan. Những bài học về thành công cũng như thất bại của các quốc gia sẽ là kinh nghiệm hết sức có ý nghĩa đối với Việt Nam trong quá trình phát triển ngành công nghiệp và dịch vụ văn hoá.
Thứ ba là những báo cáo, bài viết, công trình, kỷ yếu hội thảo, tọa đàm về những xu hướng vận động và phát triển, những phân tích và dự báo sự phát triển của ngành công nghiệp văn hoá trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn 2030. Một số công trình tiêu biểu - The UNESCO Institute for Statistics (2000), International Flows of Selected Cultural Goods 1980-98, UNESCO Culture Sector, France đã xác định: “sản phẩm văn hoá [được sản xuất trong ngành công nghiệp văn hoá] là kết quả của những sáng tạo cá nhân hay tập thể, bao gồm các ấn phẩm và tác phẩm văn học, âm nhạc, nghệ thuật thị giác (visual arts), rạp chiếu phim và nghệ thuật chụp ảnh, radio và truyền hình, các trò chơi và dịch vụ thể thao”. (2000) Creative Industries - Contracts Between Art and Commerce. Theo tác giả: Những đặc điểm của ngành công nghiệp văn hóa gồm có các yếu tố: Không ai biết – khi các sản phẩm sáng tạo được sản xuất và tiêu thụ, luôn có yếu tố không chắc chắn.
Người sản xuất không thể chắc chắn rằng một loại hình sản phẩm nhất định nào đó sẽ thu được lợi nhuận như thế nào? Thứ hai, nghệ thuật vị nghệ thuật - các nhà sáng tạo nghệ trhuật theo quan điểm thẩm mỹ của mình mà không tuân theo mệnh lệnh thị trường; Thứ ba, một đội quân đủ màu sắc; thứ tư sự khác biệt và lâu bền bất tận và thời gian trôi rất nhanh. - Stuart Cunningham, Terry Cutler, Greg Hearn, Mark Ryan, Michael Keane (2005). - Radbourne, Jennifer: Các ngành công nghiệp sáng tạo. Đại học Queensland – Úc (2004).
ở công trình này, công nghiệp văn hóa được coi là “những hoạt động áp dụng sự sáng tạo, kỹ năng và sở hữu trí tuệ để sản xuất và phân phối các sản phẩm, dịch vụ có ý nghĩa xã hội và văn hóa”. - Joseph Nye (1990), Bound to Lead: The Changing Nature of American Power và (2005) “Soft Power: The Means To Success In World Politics”, Nhà xuất bản PublicAffairs, Basic Books, New York. Trong tác phẩm này, tác giả khẳng định văn hóa được coi là nguồn “sức mạnh mềm” của một quốc gia, cùng với các ý tưởng chính trị và chính sách. - UNESCO (2007), Statistics on Cultural Industries: Framework for the Elaboration of National Data Capacity Building Projects, UNESCO Asia and Pacific Regional Bureau for Education, Bangkok.
Ở đây, đưa ra khái niệm “ngành công nghiệp văn hoá là những ngành công nghiệp sản xuất sản lượng mỹ thuật và sáng tạo hữu hình hay vô hình, và là những ngành có tiềm năng tạo ra của cải và thu nhập thông qua việc khai thác các tài sản văn hoá và sản xuất các hàng hoá và dịch vụ dựa trên tri thức”.net,http://www.net/NewsFocus/Policies/view? articleId=98635: Jessica Seoyoung Choi (2012), “Korea, a nation of cultural exports”. Số liệu về hoạt động công nghiệp văn hóa của Hàn Quốc. - UNCTAD và UNDP (2008); Báo cáo 2008 về kinh tế sáng tạo. Các thách thức của việc tiếp cận nền kinh tế sáng tạo: Hướng tới các chính sách đã được xây dựng.
- Senior, Andrew, Nurturing the creative Industries. British Council: Bài thuyết trình tại Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch tháng 8 năm 2008. Các tác giả đã khẳng định: Danh mục các ngành công nghiệp sáng tạo (công nghiệp văn hóa) được xác định bao gồm 11 lĩnh vực: Quảng cáo; kiến trúc; thị trường nghệ thuật và đồ cổ; thủ công; thiết kế; thiết kế thời trang, phim, video; nhiếp ảnh, âm nhạc, nghệ thuật thị giác và nghệ thuật biểu diễn; xuất bản; phần mềm, các trò chơi máy tính và xuất bản điện tử; phát thanh và truyền hình. - VICAS (tài liệu dịch); Chính sách phát triển công nghiệp hóa ở Canađa.
Nước này gọi công nghiệp văn hóa là công nghiệp có nội dung canađa (Canadian Content Cultura Industries) - An-Chi Tung và Henry Wan (2009), “High Tech, Low Fertility, Korea Becomes a Role Model in Cultural Industrial Policy”, Korea and World Economy Conference, VIII, Baptist University, Hong Kong. Bài viết phân tích những nhân tố tạo nên thành công của ngành công nghiệp văn hoá Hàn Quốc. - Otmazgin (2011), A Tail that Wags the Dog? Cultural Industry and Cultural Policy in Japan and South Korea, Journal of Comparative Policy Analysis: Research and Practice, 13:3, 307-325. Bài viết phân tích cách xây dựng chính sách văn hóa, phát triển công nghiệp văn hóa tại hàn Quốc và Nhật Bản.
14 Theo thống kê của một công trình nghiên cứu thì ở Việt Nam (trong thư mục của Thư viện Quốc gia và Thư viện Khoa học xã hội), cho đến năm 2005, vẫn chưa có tài liệu nào của nước ngoài nghiên cứu về thị trường văn hoá phẩm của Việt Nam [8]. Đánh giá chung về các nghiên cứu ở ngoài nước Qua khảo sát một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài trên đây, NCS rút ra một số kết luận về các nghiên cứu ở nước ngoài như sau. - Góp phần làm rõ một trong những vấn đề cơ bản: quan niệm về công nghiệp văn hoá. Công nghiệp văn hoá là ngành kinh tế đặc biệt, xuất hiện với nền văn hoá đại chúng và sự phát triển của khoa học và công nghệ truyền thông.
Bản chất của công nghiệp văn hoá là sáng tạo, đặc biệt là sáng tạo trong lĩnh vực văn hoá nghệ thuật (văn học, âm nhạc, nghệ thuật thị giác, điện ảnh, nhiếp ảnh, truyền thông, lĩnh vực thể thao và giải trí. Sản phẩm công nghiệp văn hoá có sự kết hợp giữa sáng tạo giá trị văn hoá với sự sáng tạo, áp dụng kỹ năng, công nghệ. Đặc biệt trong giữa thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI, các nhà nghiên cứu đã quan tâm rất nhiều đến vấn đề bản quyền trong nhận thức lý luận về công nghiệp văn hoá. Vấn đề bản quyền và sở hữu trí tuệ chi phối quá trình công nghiệp văn hoá, từ khâu ý tưởng và sáng tạo, sản xuất, kinh doanh phân phối các sản phẩm, dịch vụ văn hoá.
Tuy cơ cấu của ngành công nghiệp văn hoá rất đa dạng, nhưng có sự khác nhau giữa các quốc gia trong quan niệm về cơ cấu các ngành công nghiệp văn hoá, do điều kiện khác nhau, quan niệm khác nhau về vai trò của văn hoá, công nghiệp văn hoá. - Những nghiên cứu trên cũng chỉ ra những đặc thù của ngành công nghiệp này: khác với một số ngành công nghiệp (thường thì người sản xuất hoạch định được thu chi, giá trị kinh tế), công nghiệp văn hoá là ngành kinh tế mà chủ thể sản xuất, kinh doanh khó lường trước lợi nhuận thu được. Cũng 15 khác với sản phẩm của một số ngành công nghiệp khác, sản phẩm công nghiệp văn hoá có khi bị chi phối bởi chủ quan của chủ thể trong quan điểm thẩm mỹ nhiều hơn là yêu cầu của thị trường. - Một số nghiên cứu đã khẳng định vai trò của công nghiệp và dịch vụ văn hoá trong phát triển.
Khác với các sản phẩm, hàng hoá khác, hàng hoá công nghiệp văn hoá dù thể thể hiện vô hình hay hữu hình, thì đều có "giá trị kép", đó là giá trị kinh tế và giá trị văn hoá. Công nghiệp và dịch vụ văn hoá là ngành có thể tạo ra tiềm năng kinh tế to lớn; có khả năng khai thác các nguồn lực (tài sản văn hoá) để sản xuất các hàng hoá văn hoá trong nền kinh tế tri thức. - Trên cơ sở tổng kết thực tiễn về các nhân tố và bài học thành công của một số quốc gia về phát triển công nghiệp và dịch vụ văn hoá, một số nghiên cứu hướng đến vai trò của chính phủ trong xây dựng và thực thi hệ thống chính sách quốc gia liên quan đến phát triển công nghiệp văn hoá với phương diện là nền kinh tế sáng tạo trong hệ thống nền kinh tế quốc dân. Tình hình nghiên cứu trong nước Ngoài những định hướng của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển văn hoá và công nghiệp văn hoá, Luận án khái quát tình hình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài thể hiện ở hội thảo khoa học và các công trình nghiên cứu, các bài viết.
Các Hội thảo khoa học Thực hiện chủ trương của Đảng về bảo đảm gắn kết giữa phát triển kinh tế và văn hoá, hướng đến phát triển công nghiệp văn hoá trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, đã có nhiều hội thảo khoa học được tổ chức. - Hội thảo khoa học “Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội”, diễn ra ngày 11/10/2009, tại Hà Nội. Hội thảo do Hội đồng Lý luận Trung ương, Ban Chủ nhiệm 16 Chương trình nghiên cứu khoa học lý luận chính trị cấp nhà nước, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức nhằm đề xuất những kiến nghị góp phần tổng kết, bổ sung, phát triển Cương lĩnh và chuẩn bị các văn kiện trình Đại hội XI của Đảng. Các tham luận gửi đến và trình bày tại hội thảo tập trung phân tích, làm rõ quá trình nhận thức, phát triển tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về mối quan hệ và giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; tình hình thực hiện mối quan hệ này từ khi ban hành Cương lĩnh năm 1991 đến nay và đề xuất các kiến nghị ở tầm Cương lĩnh và các Báo cáo Chính trị về các vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa văn hoá và kinh tế trong quá trình phát triển.