CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE PHÁT TRIEN CON NGƯỜI VIỆT NAM TOÀN DIỆN ĐÁP UNG YÊU CÂU CUA CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LÀN THỨ TƯ 1. Một số quan điểm về phát triển con người toàn diện 1. Quan điểm cia C.Angghen và tư tưởng Hồ Chi Minh về phát triển con người toàn diện * Quan điểm C.Angghen về phát triển con người toàn diện Mặc dù C.Ăngghen không có công trình nghiên cứu chuyên biệt bàn trực tiếp về con người nhưng thông qua việc khảo cứu các tác phẩm của hai ông, những tư tưởng, quan niệm về con người, phát triển con người được thé hiện một cách sâu sắc và khoa hoc. Có thể khái quát quan điểm của C.Ăngghen về van đề con người và phát trién con người ở một số luận điểm cơ bản sau: Một là, phát triển con người là thước đo của phát triển xã hội.
Không giống các triết gia duy tâm và siêu hình đề cập đến con người chung chung, trừu tượng C.Mác khang định tiền đề xuất phát của mình là “những cá nhân hiện thực, là hoạt động của họ và những điều kiện sinh hoạt vật chat của họ” [51, tr. Theo quan niệm của C.Ăngghen, những cá nhân cụ thể, có khả năng sống mới chính là tiền đề xuất phát dé nghiên cứu lịch sử - xã hội. Nét đặc trưng cơ bản của con người là có ý thức và năng lực sáng tạo, chính điểm này tạo ra sự khác biệt căn bản giữa con người với các loài sinh vật khác. Do đó, chỉ có con người mới nắm bắt các quy luật của tự nhiên, xã hội và biết chế tạo công cụ lao động, tham gia hoạt động sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của mình.Mác khang dinh: “Viéc sử dụng và sáng tạo ra những tu liệu lao động, tuy đã có mam mống ở một vài loài động vật nào đó, nhưng vẫn là nét đặc trưng riêng của quá trình lao động của con người, và vì thế nên Phran-clin đã định nghĩa con người là: “a toolmaking animal”, một động vật chế tạo dụng cụ” [56, tr.Ăngghen cho rằng lực lượng sản xuất với hai yếu tô cơ bản là người lao động và tư liệu sản xuất có tác động trực tiếp đến sự vận hành và phát triển của xã hội.
Sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất là một trong những nguyên nhân dẫn tới sự thay đổi quan hệ sản xuất khi xã hội xuất hiện mâu thuẫn giữa 15 cái cũ và cái mới, giữa cái lạc hậu với cái tiễn bộ. Quan hệ sản xuất mới ra đời tat yếu kéo theo sự thay đôi của hình thái kinh tế mới phát triển hơn hình thái kinh tế trước. Do đó, xã hội luôn biến đổi theo chiều hướng đi lên nhờ vào sự phát triển của lực lượng sản xuất. Con người với khả năng chế tạo và sử dụng công cụ lao động đã trở thành chủ thể của quá trình sản xuất.
Với vai trò to lớn của mình, con người là nhân tố quyết định của lực lượng sản xuất. Con người càng phát triển bao nhiêu thì lực lượng sản xuất càng phát triển bấy nhiêu. Trong khi đó, sự phát triên của lực lượng sản xuất là tiêu chí để đánh giá mức độ phát triển của xã hội. Có thể nói, trình độ của con người chính là thước đo sự tiễn bộ của xã hội.
Nói chung, xã hội sẽ luôn vận động và biến đổi theo sự phát triển của lực lượng sản xuất, đặc biệt là nhân tố con người. Với những đặc điểm mang bản chất “Người”, con người đã chứng tỏ được tam quan trọng của mình trong lực lượng sản xuất. Trình độ của người lao động sẽ phản ánh mức độ phát triển của xã hội và cũng là điều kiện dé thúc day xã hội. Hai là, phát triển con người toàn diện.
Người lao động với tư cách là nhân tố chủ chốt quyết định sự phát triển của xã hội; do đó, mục tiêu mà C.Ăngghen hướng đến chính là phát triển con người toàn diện ở mọi mặt. Thông qua hoạt động lao động sản xuất, con người luôn thay đôi và hoàn thiện bản thân.Mác khang định: “Trong chính bản thân hành vi tái sản xuất, cái được biến đôi không chỉ là những điều kiện khách quan. mà ban thân những người sản xuất cũng biến đồi, tao ra trong mình những phẩm chat mới, phát triển và cải tao ban thân mình nhờ san xuất tạo ra những lực lượng mới và những quan niệm mới” [59, tr. Hành vi lịch sử đầu tiên dé con người có thé duy trì sự sống chính là lao động sản xuất dé đáp ứng những nhu câu vật chất của mình mà nhờ hoạt động ấy con người ngày càng phát triển nên việc con người ngày càng hoàn thiện là một tất yếu tự nhiên.
Con người cần tuân theo quy luật của tự nhiên; do đó, phát triển toàn diện là quyền và trách nhiệm của mỗi cá nhân.Mác phân tích: “sứ mệnh, chức trách, nhiệm vụ của bất cứ ai đều là phải phát triển toàn diện tat cả những năng lực của mình, ké cả năng lực tư duy” [58, tr. Triết học Mác khẳng định con người là một thực thể xã hội và “bản chất của con người là tong hòa những quan hệ xã hội” [51, tr. Do đó, “chỉ có trong cộng đồng cá nhân mới có được những phương tiện để phát triển toàn diện những năng 16 khiếu và do đó, chỉ có trong cộng đồng, mới có thé có tự do cá nhân” [8, tr. An?” Đồng thời, con người chỉ có thê phát triển bản tính chân chính của mình trong xã hội: “Nếu như con người bam sinh đã là sinh vật có tính xã hội thì do đó con người chỉ có thể phát triển bản thân chân chính của mình trong xã hội” [50, tr.
Nội hàm của phát triển con người là phát triển đầy đủ cá tính. Bởi vì, cá tính chính là yếu tố thé hiện nét độc đáo, đặc sắc của mỗi người, giúp cá nhân này khác biệt so với cá nhân khác.Mác chỉ ra rằng “Con người là một cá nhân đặc thù nào đó và chính tính đặc thù của nó làm nó thành ra một cá nhân và một thực thê xã hội cá thể hiện thực” [58, tr. Cá tính của con người sẽ được sản sinh trong quá trình lao động sản xuất, giúp bộc lộ bản chất Người. Xuất phát từ bối cảnh xã hội tư bản, C.Ăngghen đều thấy con người đã bị mất đi tính độc lập và cá tính “Trong xã hội tư bản có tính độc lập và cá tính, còn cá nhân người lao động lại mất đi tính độc lập và cá tính” [52, tr.
Từ đó, hai ông đã bày tỏ thái độ phê phán gay gắt đối với giai cấp tư sản đương thời và chủ trương xóa bỏ tính tư sản, tính độc lập tư bản và tự do tư sản. Dé phát triển năng lực, cá tính của con người đầy đủ, C.Mác đưa ra luận điểm cho rằng con người cần có quyên tự do cá nhân. Bàn về quyền tự do cá nhân, ông khang định “Cái quyền được hưởng tính ngẫu nhiên mà không bị can trở gì trong khuôn khô những điều kiện nhất định là cái mà cho tới nay người ta gọi là tự do cá nhân” [51, tr. Chỉ khi nào con người có quyền làm chủ bản thân, được tự do theo đuôi sở thích thì mới có thé phát triển cá tính và năng lực theo cách mà mình mong muốn.Angghen, phương pháp duy nhất dé sản xuất ra những con người phát triển toàn diện là kết hợp lao động sản xuất với trí dục và thể dục: “Như người ta có thé đọc thay một cách chi tiết ở tác phâm của Rô-bơc Ô-oen, từ chế độ công xưởng đã nảy nở ra cái mầm mống của nền giáo dục tương lai, nó sẽ kết hợp lao động sản xuất với trí dục và thể dục đối với tất cả những trẻ em trên một lứa tuổi nào đấy, coi đó không phải chi là một phương pháp dé làm thêm nền sản xuất xã hội mà còn là một phương pháp duy nhất dé sản xuất ra những con người phát triển toàn diện” [56, tr.
Đề cao tầm quan trọng của trí dục và thé dục bởi vì hai ông nhận thấy mỗi cá nhân cần có cả sức mạnh thể chất và sức mạnh trí tuệ mới có đủ khả năng cải tạo tự nhiên và xã hội.Angghen nhân mạnh thêm vé vai trò của giáo dục trong việc cải tạo và xây 17 dựng con người: “Muốn cải tạo ban tính chung của con người dé làm cho nó có được kiến thức và những thói quen khéo léo trong một ngành lao động nhất định, nghĩa là muốn cho nó trở thành một sức lao động phat triển và đặc thù, thì cần phải có một trình độ học vấn hay giáo duc nào đó” [56, tr. Giáo duc cần đảm bảo tính toàn diện các mặt trí lực, thê lực và kĩ thuật. Việc kết hợp giữa lao động với giáo dục trí lực, thê lực và kĩ thuật sẽ “nâng giai cấp công nhân lên cao hơn rất nhiều so với trình độ của giai cấp quý tộc và tư sản” [54, tr. Ba là, phát triển con người toàn diện gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội và văn hóa.
Phát trién con người toàn diện cần dựa vào nhiều yếu tố như kinh tế, văn hóa và xã hội. Do đó, phát triển con người toàn diện một Cách hiệu quả cần gắn liền với phát triển kinh tế - văn hóa va xã hội.Mác khang định: “Ching ta tự làm nên lịch sử của chúng ta, nhưng thứ nhất, chúng ta làm ra lịch sử với những tiền đề và những điều kiện xác định. Trong số những tiền đề và điều kiện ấy thì những tiền đề và điều kiện kinh tế, rốt cục giữ vai trò quyết định” [57, tr. Theo quan niệm của C.Ăngghen, tiền đề kinh tế giữ vai trò chủ chốt giúp con người sáng tạo ra đời sống vật chất và tỉnh thần từ đó làm nên lịch sử của chính mình.
Bên cạnh đó, ông luận giải thêm hoàn cảnh kinh tế và xã hội còn là yếu tố hình thành góp phan hình thành ý thức và quan niệm của mỗi cá nhân: “Nhưng từ một tình huống là ý chí của những con người riêng biệt, mà mỗi người trong số họ muốn cái mà cau tạo của cơ thé và những hoàn cảnh bên ngoài, xét tới cùng là hoàn cảnh kinh tế (hoặc là hoàn cảnh cá nhân của chính người đó, hoặc hoàn cảnh xã hội nói chung) lôi cuốn” [57, tr.Mác nhắn mạnh: “Con người tạo ra hoàn cảnh đến mức nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra con người đến mức ấy” [51, tr.