Tổng quan nghiên cứu

Tại huyện miền núi Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ, tổng diện tích đất tự nhiên đạt 62.110,40 ha với quy mô dân số hơn 123.315 người thuộc 14 dân tộc cùng sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 58%. Mặc dù diện tích đất sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế địa phương, nền sản xuất nông hộ tại đây trong nhiều năm qua vẫn đối mặt với tình trạng canh tác manh mún, điệp khúc "được mùa mất giá" và thiếu tính liên kết thị trường. Để khai thác tiềm năng thổ nhưỡng đất đồi gò pha cát phù hợp, thanh long ruột đỏ đã được đưa vào cơ cấu cây trồng mũi nhọn nhằm chuyển đổi sinh kế và nâng cao thu nhập cho người dân.

Tuy nhiên, quá trình phát triển mặt hàng này còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng: khâu sản xuất giống sạch bệnh chưa đáp ứng nhu cầu, kỹ thuật sơ chế và bảo quản sau thu hoạch còn lạc hậu, sự phân chia lợi ích giữa các tác nhân chưa hài hòa. Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá toàn diện thực trạng chuỗi giá trị thanh long ruột đỏ trên địa bàn huyện Thanh Sơn, phân tích chi phí - lợi nhuận của từng tác nhân, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao giá trị gia tăng giai đoạn 2020 - 2025.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào 3 xã trọng điểm có diện tích tập trung lớn nhất gồm Sơn Hùng, Thục Luyện và Tất Thắng, sử dụng chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2017 - 2019 cùng số liệu sơ cấp khảo sát năm 2019. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp cơ sở dữ liệu về năng suất bình quân đạt 108,0 tạ/ha và quy mô diện tích đạt 56 ha năm 2019, hỗ trợ chính quyền địa phương hoàn thiện quy hoạch nông nghiệp bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết chuỗi giá trị của Michael Porter, tập trung phân tích các hoạt động sơ cấp (vận hành đầu vào, sản xuất, logistics đầu ra, marketing, bán hàng) và hoạt động bổ trợ nhằm xác định nguồn gốc tạo ra lợi thế cạnh tranh. Kết hợp với đó là khung phân tích chuỗi giá trị theo Kaplinsky và Morris (2001), tiếp cận chuỗi như một chuỗi các hoạt động kết nối từ khâu thiết kế, cung ứng vật tư, canh tác, thu gom, phân phối đến tiêu dùng cuối cùng. Đề tài cũng vận dụng khung lý thuyết chuỗi giá trị nông sản của FAO (2010) và cẩm nang phân tích chuỗi giá trị của Võ Thị Thanh Lộc (2013).

Hệ thống chỉ tiêu cốt lõi được lượng hóa qua 5 khái niệm kinh tế chủ chốt:

  1. Giá trị sản xuất (GO): Toàn bộ giá trị sản phẩm thu được tính bằng tiền trên một đơn vị diện tích (tổng tích lượng sản phẩm nhân với đơn giá).
  2. Chi phí trung gian (IC): Toàn bộ chi phí vật chất và dịch vụ thường xuyên sử dụng trong chuỗi như giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, điện nước và vận chuyển.
  3. Giá trị gia tăng (VA): Chênh lệch giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian (VA = GO - IC).
  4. Giá trị gia tăng thuần: Lợi nhuận ròng thu được sau khi lấy giá bán trừ đi toàn bộ chi phí sản xuất và chi phí lưu thông.
  5. Tác nhân chuỗi: Bao gồm người sản xuất, thương lái thu gom, người bán buôn/bán lẻ và người tiêu dùng cuối cùng.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê huyện Thanh Sơn giai đoạn 2017 - 2019, các báo cáo tổng kết của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện, cùng Kế hoạch số 92/KH-UBND của tỉnh Phú Thọ về đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa trong năm 2019 bằng phiếu câu hỏi cấu trúc kết hợp phỏng vấn sâu và quan sát trực tiếp.

Cỡ mẫu khảo sát được xác định theo công thức chọn mẫu ngẫu nhiên Slovin với mức sai số cho phép e = 5%. Từ tổng thể N = 175 hộ trồng thanh long tại 3 xã trọng điểm (Sơn Hùng, Thục Luyện, Tất Thắng), cỡ mẫu điều tra được tính toán đạt n = 100 hộ nông dân đã qua thời kỳ kiến thiết cơ bản. Nghiên cứu cũng điều tra chọn mẫu thuận tiện 10 thương lái thu gom trên địa bàn và 20 cơ sở bán buôn/bán lẻ tại thị trấn Thanh Sơn và thành phố Việt Trì.

Phương pháp phân tích bao gồm thống kê mô tả nhằm phác thảo bức tranh tổng thể dòng sản phẩm, phương pháp phân tích so sánh kinh tế để đối chiếu tỷ suất chi phí - lợi nhuận giữa các kênh phân phối, và phương pháp đánh giá định lượng qua thang đo Likert 5 mức độ (từ 1,00 - rất không tốt đến 5,00 - rất tốt). Việc kết hợp các phương pháp này cho phép lượng hóa chính xác dòng giá trị, đánh giá mức độ bất cân xứng thông tin và xác định nút thắt trong toàn bộ chuỗi cung ứng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, diện tích trồng thanh long ruột đỏ tại huyện Thanh Sơn có sự mở rộng nhanh chóng nhưng phân bổ chưa đồng đều. Giai đoạn 2017 - 2019, tổng diện tích tăng từ 23 ha lên 56 ha, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 156,04%/năm. Trong đó, diện tích cho thu hoạch tăng từ 20 ha (năm 2017) lên 37 ha (năm 2019) với tốc độ tăng bình quân 136,01%/năm, diện tích trồng mới năm 2019 đạt 19 ha. Vùng sản xuất tập trung chủ yếu tại 3 xã: Sơn Hùng (13,2 ha tổng diện tích, 11,4 ha cho thu hoạch), Tất Thắng (6,5 ha tổng diện tích, 5,3 ha cho thu hoạch) và Thục Luyện (5,46 ha cho thu hoạch).

Thứ hai, năng suất canh tác được cải thiện liên tục qua các năm nhờ tiến bộ kỹ thuật. Năng suất bình quân đạt 100,7 tạ/ha năm 2017, tăng lên 107,9 tạ/ha năm 2018 và đạt 108,0 tạ/ha vào năm 2019. Tỷ lệ nông dân tiếp cận các lớp tập huấn kỹ thuật bấm ngọn, tỉa cành và bón phân hữu cơ đạt kết quả khả quan, giúp nâng cao sản lượng thu hoạch toàn vùng.

Thứ ba, đặc điểm nông hộ điều tra phản ánh nguồn lực lao động có sự già hóa và hạn chế về trình độ chuyên môn. Khảo sát 100 hộ nông dân cho thấy 78% chủ hộ là nam giới, độ tuổi trung bình khá cao ở mức 53,5 tuổi. Trình độ học vấn của chủ hộ chủ yếu dừng lại ở cấp trung học cơ sở, chiếm tỷ lệ 55%, gây khó khăn nhất định cho việc tiếp cận công nghệ bảo quản tiên tiến và quy trình chứng nhận an toàn thực phẩm.

Thứ tư, chuỗi giá trị thanh long ruột đỏ vận hành qua 2 kênh thị trường chính. Kênh 1 (Nông dân bán trực tiếp cho người tiêu dùng) chiếm tỷ trọng tiêu thụ nội huyện nhỏ. Kênh 2 (Nông dân -> Thương lái -> Người bán buôn/bán lẻ -> Người tiêu dùng) là kênh tiêu thụ chủ đạo, đưa sản phẩm về thành phố Việt Trì và các tỉnh lân cận nhưng giá trị gia tăng bị cắt khúc qua nhiều tầng nấc trung gian.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân phối lợi ích trong chuỗi cho thấy người nông dân là đối tượng trực tiếp bỏ vốn đầu tư ban đầu lớn, chịu toàn bộ rủi ro về sâu bệnh và biến động thời tiết, nhưng tỷ suất lợi nhuận thu về trên tổng chuỗi giá trị chưa tương xứng. Khâu thu gom và thương mại bán lẻ đạt mức sinh lời cao trên mỗi đơn vị chi phí bỏ ra. Nguyên nhân cốt lõi là do người sản xuất thiếu thông tin thị trường, giao dịch chủ yếu dựa vào thỏa thuận miệng với thương lái thu gom, hoàn toàn vắng bóng các hợp đồng bao tiêu có ràng buộc pháp lý chặt chẽ.

Khi so sánh với các địa phương có điều kiện tương đồng như huyện Lập Thạch (tỉnh Vĩnh Phúc) với 100 ha thanh long ruột đỏ trên đất đồi cằn đã xây dựng thành công nhãn hiệu tập thể được bảo hộ, hay huyện Chợ Gạo (tỉnh Tiền Giang) có hơn 9.140 ha chuyên canh với 432 ha đạt chuẩn VietGAP, huyện Thanh Sơn vẫn còn tụt hậu xa về quy mô liên kết và chế biến sâu. Thanh Sơn hiện chưa có doanh nghiệp đầu mối đầu tư nhà máy chế biến nước ép, sấy dẻo hoặc kho lạnh bảo quản tiêu chuẩn.

Để minh họa trực quan dòng luân chuyển giá trị, các phát hiện nghiên cứu có thể được tổng hợp qua mô hình biểu đồ cột thể hiện tỷ lệ đóng góp chi phí trung gian (IC) so với giá trị gia tăng (VA) của từng tác nhân, cùng bảng phân tích giá trị gia tăng thuần (Net VA) qua 2 kênh phân phối. Điều này chứng minh rõ ràng việc thiếu vắng các hợp tác xã chuyên ngành đang làm suy giảm năng lực đàm phán giá của người nông dân miền núi.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phát triển bền vững chuỗi giá trị thanh long ruột đỏ tại huyện Thanh Sơn giai đoạn 2020 - 2025, bốn nhóm giải pháp hành động đồng bộ cần được triển khai:

  1. Quy hoạch và mở rộng vùng sản xuất tập trung: Ủy ban nhân dân huyện Thanh Sơn chủ trì phối hợp với Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng đề án quy hoạch vùng chuyên canh đạt 100 ha vào năm 2025, tập trung mở rộng tại các xã Sơn Hùng, Thục Luyện, Tất Thắng và Cự Đồng; kiểm soát chặt chẽ nguồn cây giống sạch bệnh, đảm bảo 100% diện tích trồng mới sử dụng giống lai chất lượng cao.
  2. Đổi mới tổ chức sản xuất và phát triển kinh tế tập thể: Thành lập từ 3 đến 5 hợp tác xã chuyên ngành thanh long kiểu mới giai đoạn 2021 - 2023 tại các xã trọng điểm; thúc đẩy các hợp tác xã đứng ra làm đầu mối ký kết hợp đồng liên kết bao tiêu nông sản với các siêu thị, doanh nghiệp chế biến, giảm tỷ lệ hủy hợp đồng bằng miệng xuống dưới 5%.
  3. Chuẩn hóa quy trình kỹ thuật và chứng nhận chất lượng: Trạm Khuyến nông huyện đẩy mạnh tổ chức 15 - 20 lớp đào tạo kỹ thuật thâm canh mỗi năm, phấn đấu đến năm 2025 có ít nhất 60% diện tích (khoảng 35 - 40 ha) đạt tiêu chuẩn VietGAP, ứng dụng hệ thống tưới nhỏ giọt tiết kiệm nước và kỹ thuật chiếu sáng đèn kích thích ra hoa trái vụ để tăng hiệu quả kinh tế.
  4. Xúc tiến thương mại, xây dựng nhãn hiệu và phát triển OCOP: Phòng Kinh tế và Hạ tầng phối hợp với Sở Công Thương tỉnh Phú Thọ đăng ký bảo hộ nhãn hiệu chứng nhận "Thanh long ruột đỏ Thanh Sơn", đưa sản phẩm đạt chuẩn OCOP từ 3 đến 4 sao giai đoạn 2022 - 2024; phát triển hệ thống tem truy xuất nguồn gốc QR code và đưa sản phẩm lên các sàn thương mại điện tử uy tín.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ hoạch định chính sách: Lãnh đạo Ủy ban nhân dân huyện, Phòng Nông nghiệp & PTNT, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật có thể sử dụng bộ dữ liệu khảo sát 56 ha thực tế để xây dựng quy hoạch nông nghiệp trung hạn, ban hành chính sách trợ giá giống và vốn vay ưu đãi cho vùng đồng bào dân tộc.
  • Hộ nông dân, tổ hợp tác và hợp tác xã nông nghiệp: Các nhà vườn tại Thanh Sơn và các huyện lân cận (như Tân Sơn, Yên Lập) có thể tham khảo quy trình hạch toán chi phí sản xuất, kỹ thuật thâm canh đạt năng suất trên 108 tạ/ha, cũng như nhận thức rõ lợi ích của việc gia nhập hợp tác xã để tăng sức mạnh đàm phán giá với thương lái.
  • Doanh nghiệp thu mua, đơn vị logistics và cơ sở chế biến: Các doanh nghiệp phân phối nông sản có thể đánh giá chính xác sản lượng, thời vụ và các kênh lưu thông của 37 ha vùng nguyên liệu cho thu hoạch, từ đó xây dựng phương án đầu tư kho sơ chế, cơ sở sấy lạnh và chuỗi cung ứng khép kín về thị trường Hà Nội.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học: Các nhà nghiên cứu chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn có thêm tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp kết hợp công thức chọn mẫu Slovin, thang đo Likert và khung lý thuyết ValueLinks trong phân tích chuỗi giá trị cây ăn quả đặc sản vùng trung du miền núi phía Bắc.

Câu hỏi thường gặp

  1. Đâu là động lực chính thúc đẩy diện tích thanh long ruột đỏ tại huyện Thanh Sơn tăng trưởng 156,04% giai đoạn 2017 - 2019? Động lực chính xuất phát từ chủ trương tái cơ cấu nông nghiệp theo Kế hoạch số 92/KH-UBND của tỉnh Phú Thọ, kết hợp với điều kiện thổ nhưỡng đất đồi pha cát thích hợp và hiệu quả kinh tế vượt trội của thanh long so với các loại cây lâm nghiệp, cây sắn truyền thống, thúc đẩy người dân tại các xã Sơn Hùng, Thục Luyện mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng.

  2. Tại sao người nông dân trong chuỗi giá trị lại có tỷ suất lợi nhuận biên thấp hơn các khâu trung gian? Người sản xuất phải gánh chịu toàn bộ chi phí đầu tư ban đầu, rủi ro thời tiết và dịch bệnh nhưng thiếu liên kết đầu ra. Do 55% chủ hộ có trình độ học vấn trung học cơ sở và quen bán lẻ tự do, nông dân bị phụ thuộc vào thương lái thu gom, giao dịch qua hợp đồng miệng nên thường bị ép giá vào thời điểm thu hoạch rộ.

  3. Điểm khác biệt cơ bản giữa 2 kênh phân phối thanh long ruột đỏ tại Thanh Sơn là gì? Kênh 1 là dòng sản phẩm trực tiếp từ người nông dân đến người tiêu dùng địa phương với khối lượng tiêu thụ nhỏ, không qua sơ chế. Kênh 2 là kênh thương mại chủ đạo đưa nông sản qua thương lái và các điểm bán buôn/bán lẻ tại thị trấn Thanh Sơn và thành phố Việt Trì, tạo ra giá trị gia tăng cao hơn nhưng tỷ lệ hao hụt sau thu hoạch cũng lớn hơn.

  4. Huyện Thanh Sơn có thể học tập được bài học cốt lõi nào từ mô hình Lập Thạch (Vĩnh Phúc) và Chợ Gạo (Tiền Giang)? Bài học quan trọng nhất là phải quy hoạch vùng sản xuất tập trung quy mô lớn (như Lập Thạch đạt 100 ha, Chợ Gạo đạt trên 9.140 ha), xây dựng nhãn hiệu tập thể được Cục Sở hữu trí tuệ cấp bằng bảo hộ, chuẩn hóa quy trình VietGAP và chủ động liên kết doanh nghiệp đầu tư công nghệ chế biến sâu để tránh phụ thuộc vào một thị trường đơn lẻ.

  5. Tính đại diện của mẫu điều tra 100 hộ nông dân trong luận văn được bảo đảm như thế nào? Cỡ mẫu n = 100 hộ được tính toán chuẩn xác theo công thức Slovin từ tổng thể 175 hộ trồng thanh long tại 3 xã tập trung diện tích lớn nhất (Sơn Hùng 11,4 ha, Tất Thắng 5,3 ha, Thục Luyện 5,46 ha thu hoạch), đảm bảo sai số mẫu dưới 5% và phản ánh đầy đủ đặc điểm kinh tế - xã hội của vùng sản xuất trọng điểm.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận về chuỗi giá trị nông sản vùng trung du miền núi, vận dụng linh hoạt mô hình phân tích kinh tế của Porter, Kaplinsky & Morris và FAO vào điều kiện thực tế của tỉnh Phú Thọ.
  • Phân tích chi tiết thực trạng phát triển diện tích thanh long ruột đỏ huyện Thanh Sơn giai đoạn 2017 - 2019 tăng từ 23 ha lên 56 ha, với năng suất bình quân năm 2019 đạt 108,0 tạ/ha tại 3 địa bàn trọng điểm Sơn Hùng, Thục Luyện và Tất Thắng.
  • Chỉ rõ những nút thắt căn bản trong chuỗi giá trị: liên kết giữa 100 hộ khảo sát với thương lái còn lỏng lẻo, chuỗi cung ứng cắt khúc qua 2 kênh phân phối trung gian, thiếu công nghệ sơ chế và chế biến sâu sau thu hoạch.
  • Hoàn thiện hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược giai đoạn 2020 - 2025, định hướng mở rộng diện tích chuyên canh đạt 100 ha, chứng nhận 60% diện tích VietGAP, thành lập các hợp tác xã kiểu mới và gắn nhãn hiệu OCOP 3 - 4 sao.
  • Đây là thời điểm then chốt để các nhà quản lý, doanh nghiệp nông nghiệp và bà con nông dân huyện Thanh Sơn cùng bắt tay kiến tạo chuỗi liên kết giá trị khép kín, nâng tầm thương hiệu thanh long ruột đỏ đất Tổ trên bản đồ nông sản Việt Nam.