phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về phát triển cho vay tiêu dùng của ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng phát triển cho vay tiêu dùng tại ngân hàng TMCP Lienvietpostbank - Chi nhánh tỉnh Quảng Bình Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp phát triển cho vay tiêu dùng tại ngân hàng TMCP Lienvietpostbank - Chi nhánh tỉnh Quảng Bình 4 PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Ngân hàng thƣơng mại và hoạt động cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thƣơng mại 1.Khái quát về Ngân hàng thƣơng mại Theo Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010 có hiệu lực kể từ 01 tháng 01 năm 2011, “Ngân hàng thƣơng mại là loại hình ngân hàng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. [1] NHTM là một loại hình doanh nghiệp có cơ cấu, tổ chức bộ máy, cấu trúc tài chính giống nhƣ một doanh nghiệp. Hoạt động của NHTM cũng nhƣ các doanh nghiệp đều hƣớng tới mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận.
Là một trong những định chế tài chính mà đặc trƣng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội. Ngân hàng thƣơng mại đóng vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế thị trƣờng, là nơi khai thác, tập trung vốn và điều hòa vốn cho nền kinh tế. Vai trò của Ngân hàng Thƣơng mại đối với sự phát triển của nền kinh tế Một là, Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế Vốn đƣợc tạo ra từ quá trình tích luỹ, tiết kiệm của mỗi cá nhân, doanh nghiệp và Nhà nƣớc trong nền kinh tế.
Vì vậy, muốn có nhiều vốn phải tăng thu nhập quốc dân và có mức độ tiêu dùng hợp lý. Để tăng thu nhập quốc dân tức là cần phải mở rộng quy mô chiều rộng lẫn chiều sâu của sản xuất và lƣu thông hàng hoá, đẩy mạnh sự phát triển của các ngành trong nền kinh tế và muốn làm đƣợc điều đó phải có vốn. Mặt khác, khi nền kinh tế càng phát triển sẽ càng tạo ra nhiều vốn, điều đó sẽ tác động tích cực đến hoạt động ngân hàng. Ngân hàng thƣơng mại là chủ thể chính đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh.
Ngân hàng thƣơng mại đứng ra huy động các nguồn vốn nhàn rỗi và tạm thời nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế. Bằng nguồn vốn huy động đƣợc trong nền kinh tế, thông 5 qua hoạt động tín dụng, ngân hàng thƣơng mại sẽ cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế và đáp ứng nhu cầu vốn một cách kịp thời cho quá trình tái sản xuất. Qua đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển.[14] Hai là, Ngân hàng là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường Trong điều kiện nền kinh tế thị trƣờng, hoạt động của doanh nghiệp chịu tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế khách quan và sản xuất phải trên cơ sở đáp ứng nhu cầu thị trƣờng, thỏa mãn nhu cầu thị trƣờng. Để có thể đáp ứng điều này, doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lƣợng lao động, cũng cố và hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế, chế độ hạch toán kế toán, bên cạnh đó cần phải cải tiến máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ, tìm tòi sử dụng nguyên vật liệu mới, mở rộng quy mô sản xuất một cách thích hợp.
Những hoạt động này đòi hỏi cần lƣợng vốn đầu tƣ lớn, nhiều khi vƣợt quá khả năng vốn tự có của doanh nghiệp. Do đó để giải quyết khó khăn trên doanh nghiệp có thể tìm đến ngân hàng xin vay vốn nhằm thoả mãn nhu cầu đầu tƣ của mình. Thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng là chiếc cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trƣờng.[14] Ba là, Ngân hàng thương mại là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trƣờng, ngân hàng thƣơng mại hoạt động một cách có hiệu quả thông qua các nghiệp vụ kinh doanh của mình, là một công cụ để nhà nƣớc điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Bằng hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các ngân hàng thƣơng mại trong hệ thống, các ngân hàng thƣơng mại đã góp phần mở rộng khối lƣợng tiền cung cứng trong lƣu thông.
Thông qua việc cung ứng tín dụng cho các ngành trong nền kinh tế, ngân hàng thƣơng mại thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp và phân chia vốn của thị trƣờng, điều khiển chúng một cách có hiệu quả và thực thi vai trò điều tiết gián tiếp vĩ mô [14] Bốn là, Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế Sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia luôn gắn liền với sự phát triển của kinh tế thế giới và là một bộ phận cấu thành nên sự phát triển đó, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trƣờng khi các mối quan hệ hàng hoá tiền tệ ngày càng mở rộng, nhu cầu giao lƣu kinh tế - xã hội giữa các nƣớc trên thế giới càng trở nên thân thiết và 6 cấp bách, điều này dẫn đến nền tài chính của mỗi nƣớc cũng phải hoà nhập với nền tài chính quốc tế và Ngân hàng thƣơng mại có vai trò quan trọng trong sự hoà nhập nêu trên. Với các nghiệp vụ kinh doanh nhƣ nhận tiền gửi, cho vay, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ hối đoái và các nghiệp vụ khác, Ngân hàng thƣơng mại đã tạo điều kiện thúc đẩy ngoại thƣơng không ngừng đƣợc mở rộng. Thông qua các hoạt động thanh toán, kinh doanh ngoại hối, quan hệ tín dụng với các ngân hàng thƣơng mại nƣớc ngoài, hệ thống ngân hàng thƣơng mại đã thực hiện vai trò điều tiết nền tài chính trong nƣớc phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế. Các hoạt động của ngân hàng thƣơng mại Luật các TCTD số 47/2010/QH12 năm 2010 nêu rõ: Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thƣờng xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: - Nhận tiền gửi; - Cấp tín dụng; - Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Thứ nhất, hoạt động huy động vốn Là nghiệp vụ quan trọng của ngân hàng, góp phần mang lại nguồn vốn cho ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác. Mặc khác, thông qua nghiệp vụ huy động vốn, NHTM có thể đo lƣờng đƣợc uy tín cũng nhƣ sự tín nhiệm của khách hàng đối với Ngân hàng. Các hình thức huy động vốn: - Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân, TCTD khác dƣới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm. - Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu, giấy tờ có giá khác để huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nƣớc; - Đi vay từ các TCTD khác tại Việt Nam và nƣớc ngoài; - Vay vốn ngắn hạn của NHNN.
Thứ hai, hoạt động tín dụng NHTM đƣợc cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân dƣới hình thức cho vay, bảo lãnh chiết khấu thƣơng phiếu và các giấy tờ có giá, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của NHNN. Đối với NHTM đây chính là hoạt động sinh lời chủ yếu. Thứ ba, dịch vụ thanh toán, ngân quỹ 7 NHTM đƣợc phép mở tài khoản cho cá nhân, tổ chức trong và ngoài nƣớc có nhu cầu thanh toán giữa các ngân hàng với nhau, mở tài khoản tại Ngân hàng nhà nƣớc nơi NHTM đặt trụ sở chính và duy trì tại đây lƣợng dự trữ bắt buộc theo quy định, mở tài khoản tại các TCTD để duy trì tiền gửi và thực hiện các dịch vụ thanh toán và ngân quỹ. Hoạt động thanh toán, ngân quỹ của NHTM bao gồm: - Cung cấp các phƣơng tiện thanh toán; - Cung cấp dịch vụ thanh toán trong nƣớc và ngoài nƣớc; - Thực hiện các dịch vụ thu hộ, chi hộ; - Thực hiện các dụch vụ thu, chi tiền mặt cho khách hàng; - Tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàng, thanh toán quốc tế.
Thứ tư, các hoạt động khác NHTM còn đƣợc phép thực hiện các hoạt động sau: - Góp vốn mua cổ phần; - Tham gia thị trƣờng tiền tệ: phát hành các loại trái phiếu ngắn hạn, mua bán các khoản nợ ngắn hạn cung cấp các khoản vay ngắn hạn, điều tiết vốn gữa các NHTM; - Kinh doanh ngoại hối (khi đƣợc NHNN cấp phép); - Uỷ thác và nhận uỷ thác: nhƣ quản lý tài sản, uỷ thác ngân hàng khác thu chi hộ; - Tƣ vấn tài chính; - Cung ứng dịch vụ bảo hiểm; 1. Cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm cho vay tiêu dùng Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền và hàng hoá) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (các cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận. Bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến thời hạn thanh toán [11].
Tín dụng là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thƣơng mại, là hoạt động mang tính truyền thống đem lại nguồn thu lớn nhất nhƣng cũng chứa đựng nhiều rủi ro nhất của ngân hàng. Nếu phân loại hoạt động tín dụng của ngân hàng 8 theo mục đích sử dụng vốn vay thì tín dụng ngân hàng đƣợc chia thành các loại: cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh, cho vay tiêu dùng, cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu,. Trong đó, cho vay tiêu dùng đã và đang chứng minh đƣợc vai trò to lớn trong hoạt động ngân hàng nói riêng và trong nền kinh tế nói chung. Cho vay tiêu dùng đƣợc hiểu là sự chuyển nhƣợng một lƣợng giá trị (tiền tệ hoặc hiện vật) từ các NHTM sang ngƣời đi vay (cá nhân và hộ gia đình trong nền kinh tế) nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của ngƣời tiêu dùng trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc lẫn lãi.
Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của ngƣời tiêu dùng, bao gồm cho vay cá nhân và hộ gia đình.