CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP SIÊU NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp siêu nhỏ 1. Khái niệm doanh nghiệp siêu nhỏ Để hiểu được thế nào là doanh nghiệp siêu nhỏ, có thể bắt đầu từ việc doanh nghiệp được định nghĩa như thế nào. Theo Khuyến nghị số 2003/361/EC ngày 06/5/2003 của Ủy ban Châu Âu, doanh nghiệp được định nghĩa như sau: “Một doanh nghiệp là bất kỳ thực thể nào tham gia vào hoạt động kinh tế, bất kể hình thức pháp lý (legal form) của nó.
Doanh nghiệp cũng bao gồm cá nhân tự doanh (self-employed persons), hộ kinh doanh (family business) trong ngành nghề thủ công và các hoạt động khác, và các hợp doanh (partnerships) hoặc các hiệp hội (association) thường xuyên tham gia vào hoạt động kinh tế”. Định nghĩa này có hai điểm đáng chú ý: Thứ nhất, doanh nghiệp là một trường hợp cụ thể của thực thể kinh doanh được nhắc đến trong khái niệm trợ cấp nhà nước tại Điều 107 của Hiệp ước về hoạt động của Liên minh châu Âu (TFEU), vì thế nó thỏa mãn một trong những tiêu chí khi xác định một biện pháp là trợ cấp nhà nước - đối tượng nhận trợ cấp là thực thể tham gia vào hoạt động kinh tế. Thứ hai, việc xác định một thực thể có phải là doanh nghiệp hay không phụ thuộc vào tính chất hoạt động (thực hiện hoạt động kinh tế) chứ không phụ thuộc vào hình thức pháp lý của nó. Do vậy, định nghĩa doanh nghiệp này khá rộng và các thuộc tính về mặt tổ chức như địa vị pháp lý của doanh nghiệp thuộc khu vực công hay khu vực tư, hoạt động vì lợi nhuận hay phi lợi nhuận… không phải là yếu tố liên quan để xác định một thực thể là doanh nghiệp.
Tại Việt Nam, theo luật doanh nghiệp năm 2020, doanh nghiệp được định nghĩa như sau: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.” Theo đó, doanh nghiệp siêu nhỏ là một thuật ngữ dùng để chỉ các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, với số lượng nhân viên, doanh thu và tài sản hạn chế, tùy 7 theo lĩnh vực hoạt động, các tiêu chí quy định một doanh nghiệp là doanh nghiệp siêu nhỏ. Theo Phụ lục của Khuyến nghị số 2003/361/EC, doanh nghiệp được coi là doanh nghiệp siêu nhỏ khi có số lượng nhận viên nhỏ hơn 10 người, đồng thời doanh thu hoặc tổng tài sản trên bảng cân đối tài sản có giá trị nhỏ hơn 2 triệu EUR. Cùng điều kiện tương tự, doanh nghiệp siêu nhỏ được phân loại theo các tiêu chí được quy định tại Nghị định 39/2018/NĐ-CP và Nghị định 80/2021/NĐ-CP: Số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm, Tổng doanh thu năm của doanh nghiệp, Tổng nguồn vốn của doanh nghiệp: Đối với Doanh nghiệp làm trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, doanh nghiệp siêu nhỏ có những yếu tố sau: - Số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người; - Tổng doanh thu: không quá 3 tỷ đồng/năm; - Tổng nguồn vốn: không quá 3 tỷ đồng. Đối với Doanh nghiệp làm trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, doanh nghiệp siêu nhỏ đươc xác định như sau: - Số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người; - Tổng doanh thu: không quá 3 tỷ đồng/năm; - Tổng nguồn vốn: không quá 3 tỷ đồng.
Đối với Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có các yếu tố sau: - Số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người; - Tổng doanh thu: không quá 10 tỷ đồng/năm; - Tổng nguồn vốn: không quá 3 tỷ đồng. Do tính chất của lĩnh vực thương mại, dịch vụ có những đặc thù đặc biệt, có thể mang lại lợi nhuận cao mà không cần dùng quá nhiều nhân công. Chính vì vậy, tiêu chí xác định doanh nghiệp siêu nhỏ ở lĩnh vực thương mại, dịch vụ có những sự khác biệt so với các lĩnh vực trên. Các yếu tố quy định phân loại doanh nghiệp có thể hiểu như sau: Số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm: Số lao động tham gia 8 bảo hiểm xã hội được hiểu là toàn bộ số lao động do doanh nghiệp quản lý, sử dụng và trả lương, trả công tham gia bảo hiểm xã hội theo pháp luật về bảo hiểm xã hội.Số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm được tính bằng cách lấy tổng số lao động tham gia bảo hiểm xã hội của năm chia cho số tháng trong năm.
Trong trường hợp doanh nghiệp hoạt động dưới 01 năm, số lao động tham gia bảo hiểm bình quân được tính bằng tổng số lao động tham gia bảo hiểm xã hội của các tháng chia cho số tháng hoạt động. Tổng doanh thu năm của doanh nghiệp: Là tổng doanh thu bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp và được xác định trên Báo cáo tài chính của năm trước liền kề mà doanh nghiệp nộp cho cơ quan quản lý thuế. Trường hợp doanh nghiệp hoạt động dưới 01 năm hoặc trên 01 năm nhưng chưa phát sinh doanh thu thì doanh nghiệp căn cứ vào tiêu chí tổng nguồn vốn quy định tại Điều 9 Nghị định 39/2018/NĐ-CP. Tổng nguồn vốn của doanh nghiệp: Tổng nguồn vốn được xác định trong bảng cân đối kế toán thể hiện trên Báo cáo tài chính của năm trước liền kề mà doanh nghiệp nộp cho cơ quan quản lý thuế.
Trường hợp doanh nghiệp hoạt động dưới 01 năm, tổng nguồn vốn được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp tại thời điểm cuối quý liền kề thời điểm doanh nghiệp đăng ký hưởng nội dung hỗ trợ. Lĩnh vực hoạt động: Lĩnh vực hoạt động được xác định căn cứ vào quy định của pháp luật về hệ thống ngành kinh tế và quy định của pháp luật chuyên ngành. Trường hợp hoạt động trong nhiều lĩnh vực, doanh nghiệp siêu nhỏ được xác định căn cứ vào lĩnh vực có doanh thu cao nhất. Tại MB Bank, Doanh nghiệp siêu nhỏ đươc quy định là các doanh nghiệp mà doanh thu thuần bình quân theo Báo cáo tài chính năm (Kiểm toán/thuế) trong vòng tối đa 03 năm liên tục gần nhất dưới 100 tỷ VND 1.
Cho vay doanh nghiệp siêu nhỏ tại ngân hàng thương mại Cho vay đã xuất hiện từ cách đây rất lâu khi những người thiếu vốn và những người thừa vốn phát sinh nhu cầu cho vay và đi vay trong cùng một thời điểm. Cho vay tại NHTM là hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTM để tạo ra lợi nhuận. Thu nhập từ cho vay bù đắp chi phí tiền gửi, chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh và quản lý, chi phí thuế các loại, chi phí rủi ro và các chi phí liên quan khác. 9 Theo Mai Văn Bạn (2009) có đưa ra định nghĩa: “Cho vay của NHTM là việc chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ NHTM (người sở hữu) sang khách hàng vay (người sử dụng) sau một thời gian nhất định quay trở lại NHTM với lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu.
Hay có thể hiểu cho vay của NHTM là quan hệ giữa một bên là người cho vay (NHTM) bằng cách chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên người vay (khách hàng vay) để sử dụng trong một thời gian nhất định với cam kết của người vay là hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn. Cho vay là quyền của NHTM. Vì vậy NHTM có quyền yêu cầu khách hàng vay phải tuân thủ những điều kiện mang tính pháp lý nhằm đảm bảo việc trả nợ khi đến hạn”. Khái niệm cho vay có thể được định nghĩa như sau: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.
Thông qua các định nghĩa về cho vay nêu trên, có thể khái quát khái niệm về cho vay của NHTM như sau: Cho vay của NHTM là một hình thức cấp tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích cá nhân hay đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất định, theo thỏa thuận của ngân hàng và khách hàng, bảo đảm tuân thủ các quy định của Pháp luật và NHNN với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn. Từ khái niệm về cho vay của Ngân hàng thương mại và doanh nghiệp siêu nhỏ, ta có thể hiểu bản chất của Cho vay doanh nghiệp siêu nhỏ là hoạt động tín dụng mà ngân hàng thỏa thuận cấp cho đối tượng khách hàng doanh nghiệp siêu nhỏ một khoản vốn vay nhất định để doanh nghiệp siêu nhỏ thực hiện các kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định và doanh nghiệp siêu nhỏ phải có trách nhiệm, nghĩa vụ hoàn trả cả gốc và lãi của khoản vay vốn đó cho ngân hàng khi đã đến thời hạn thanh toán theo thỏa thuận tại hợp đồng vay vốn đã ký kết với Ngân hàng. Đặc điểm và vai trò cho vay doanh nghiệp siêu nhỏ a. Đặc điểm cho vay doanh nghiệp siêu nhỏ trong ngân hàng thương mại Các doanh nghiệp siêu nhỏ thường có các đặc điểm sau: - Về quy mô nhân sự: Số lượng nhân viên của doanh nghiệp siêu nhỏ thường 10 hạn chế, từ vài người đến một vài chục người.
- Về doanh thu và lợi nhuận: Thường có doanh thu hạn chế, thường là mức doanh thu thấp trong ngành kinh doanh của họ, lợi nhuận thu được ở mức thấp hơn rất nhiều so với các doanh nghiệp lớn. - Về quy mô hoạt động: Thường các doanh nghiệp siêu nhỏ hoạt động trong một phạm vi hẹp, chủ yếu tập trung vào một ngành nghề hoặc thị trường cụ thể. - Về quản lý tổ chức: Do quy mô nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ này thường có một hệ thống quản lý đơn giản, một nhân sự có thể đảm nhiệm nhiều công việc trong tổ chức. - Về đặc điểm chủ sở hữu: Các doanh nghiệp siêu nhỏ thường do một chủ sở hữu điều hành.