CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE VAN ĐÈ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Ở Việt Nam, vấn đề liên kết sản xuất - kinh doanh dược liệu giữa doanh nghiệp, Nhà khoa học, Nhà nông và Nhà nước vẫn là vấn đề bức xúc, nhất là khi quá trình hội nhập kinh tế đòi hỏi phải tổ chức lại cơ bản nền sản xuất hàng hóa phục vụ tiêu thụ nội địa và xuất khâu dé đồng thời thỏa mãn yêu cầu về số lượng và chất lượng của người tiêu dùng. Ngoài ra, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ ở các vùng nông thôn ven các thành phố lại đặt cho ngành dược liệu ven đô nhiều thách thức lớn. Từ đó, hình thành nhu cầu phát triển dược liệu với những đặc thù riêng biệt, khác với các vùng nông nghiệp truyền thống, phát triển dược liệu khong chỉ thỏa mãn nhu cầu chữa bệnh, thực phẩm chức năng mà còn là nhu cầu làm đẹp, chăm sóc sức khỏe từ những sản phẩm chế biến từ dược liệu thiên nhiên ở trong nước của mọi tầng lớp người dân.
Nông dân ngày nay, đặc biệt là nông dân các vùng có tiềm năng lợi thế về phát triển được liệu không phải chỉ sản xuất được liệu phục vụ tiêu dùng của hộ mà chủ yếu là hàng hóa. Đặc điểm sản xuất hàng hóa nảy sinh một số yêu cầu lớn: - Sản xuất hàng hóa đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao hơn đề giảm chỉ phí sản xuất, do vậy họ bắt buộc phải có các liên kết với các tổ chức cung cấp dịch vụ đầu vào cũng như đầu ra trong sản xuất (các tổ chức cung cấp vốn; các đơn vị cung ứng vật tư sản xuất; các đơn vị chịu trách nhiệm xây dựng chỉ dẫn địa lý, xuất xứ hàng hóa cho sản phẩm và kiểm soát chất lượng dược liệu; các hệ thống kho chứa điều tiết hàng hóa, các đơn vị vận chuyền, giao hàng.) đặc biệt là các tổ chức giúp giải quyết các mối quan hệ với bên ngoài như tiếp xúc với thị trường, tiếp thị, quảng bá. Tổ chức nông dân sẽ giúp các hộ dé dàng tiếp cận với các nguồn vốn vay. - Nhu cầu về sử dung các sản phẩm được chế biến từ dược liệu tự nhiên của người dân ở trong nước và phục vụ xuất khâu đang là vấn đề cấp bách, “cung không đủ cầu” đây chính là thị trường tiêu thụ rộng lớn và đều đặn trong tương lai.
Tuy nhiên, để tiếp cận được thị trường này, người dân phải liên kết với các doanh nghiệp, các nhà khoa học và Nhà nước để nâng cao chất lượng dược liệu nhằm và khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Trên thé giới, cụ thé là ở hầu hết các nước đang phát triển, 70-95% dân số sử dụng thuốc cổ truyền trong chăm sóc sức khỏe ban đầu, đặc biệt là các quốc gia Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ La tỉnh và Trung Đông. Ở nhiều nước phát triển như Canada, Pháp, Đức, Y, sử dụng thuốc cổ truyền cũng tăng đáng kẻ, 70-90% dân số sử dụng các sản phẩm thảo dược dưới các tiêu đề “thực phẩm bổ sung”, “sản phẩm thay thế” hay “sản phẩm không thông thường”. Điều này dẫn đến các đơn vị quản lý, sản xuất - kinh doanh phải tăng cường các hoạt động nghiên cứu, kiểm soát, kinh doanh, tiếp thị các sản phẩm thuốc y học cổ truyền ở cấp quốc tế.
WHO đã công bố nhiều văn bản về nhận thức vai trò của thuốc YHCT và phát triển thuốc từ thảo dược như: + WHO va UNICEF đã thông qua Tuyên bố Alma-Ata năm 1978; + Đã đưa ra bản hướng dẫn thực hành thu hái và trồng trọt cây thuốc tốt (GACP) năm 2003; + Đã thông qua bản “Chiến lược toàn cầu và kế hoạch hành động vì sức khoẻ cộng đồng, phát minh và sở hữu trí tuệ” (24/05/2008); + Đã đưa ra Tuyên bồ Bắc Kinh (08/1 1/2008); + Đã mở nhiều hội thảo về Thuốc dân tộc (2009). Rõ ràng, chính sách phát triển thuốc Y học cổ truyền của WHO, trong đó có dược liệu, đòi hỏi sự tham gia đầy đủ của nhiều ban ngành, đơn vị từ Nhà quản ly đến người dân, từ Nhà khoa học đến Doanh nghiệp. WHO không đưa ra mô hình nhất định dé phát triển dược liệu ở các quốc gia khác nhau. Tuy nhiên, một số văn phòng của WHO tại địa phương ở Châu Phi, Trung Đông và Đông Nam Á cũng đã đưa ra các hướng dẫn phù hợp với địa phương về qui định, đăng ký thuốc cô truyền cũng như các đề xuất về tiêu chuẩn tiếp thị (WHO, 2011).
Tại Châu Á, có những mô hình phát triển các sản phẩm trong đó Nhà nước là người đóng vai trò chủ chốt. Kinh nghiệm của các nước lân cận như Trung Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc. cho thấy việc xây dựng chiến lược quy hoạch phát triển dược liệu tại các vùng có tiềm năng lợi thế trên vùng lãnh thé được triển khai mạnh mẽ. Việc này được triển khai cụ thể từ khâu tuyên truyền, quảng bá đến đầu tư về khoa học - kỹ thuật và tài chính cho phát triển.
Vấn đề này được thực hiện đồng bộ giữa các cấp các ngành ở các địa phương, nhất là trong việc phối hợp xây dựng các phương án phát triển mang tính đặc thù của mỗi địa phương dựa trên chiến lược, quy hoạch tổng thể chung của vùng lãnh thổ (WHO, 2011). Do vậy, việc xây dựng mô hình liên kết phát triển phù hợp với từng địa phương, từng vùng của mỗi quốc gia là vấn đề được các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam được quan tâm và nghiên cứu. Tại Việt Nam, nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo tồn, phát triển được liệu đối với công tác chăm sóc sức khỏe và chữa trị bệnh tật cũng như phát triển kinh tế đất nước, ngay từ thời kỳ chiến tranh, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản về phát triển dược liệu. Trước yêu cầu hội nhập và phát triển của đất nước ngày nay, đồng thời đáp ứng yêu cầu ngày cảng tăng về số lượng và chất lượng của nguồn nguyên liệu làm thuốc ở Việt Nam, Trong giai đoạn từ 2000 đến nay, Nhà nước nhận thấy rõ vai trò của y dược học cô truyền và công tác phát triển dược liệu đối với phát triển kinh tế.
Từ đó, Nhà nước và các Bộ ngành đã đưa ra các Nghị quyết, quyết định chú trọng đến công tác dược liệu như: Quyết định 108/2002/QĐ-TTg về phê duyệt chiến lược phát triển ngành Dược giai đoạn đến năm 2010, Quyết định 22/2003/QĐ-TTg về phê duyệt chính sách quốc gia về Y dược học cổ truyền, Quyết định 765/2005/QD- BYT về phê duyệt kế hoạch thực hiện chính sách quốc gia về Y dược học cổ truyền; Quyết định số 153/2006/QĐ-TTg ngày 30/6/2006 về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển Y tế Việt Nam giai đoạn đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020. Tuy nhiên, thực tế việc hợp tác, liên kết giữa nghiên cứu còn rời rạc, phát triển, sản xuất, thị trường tiêu thụ được liệu, thiếu tổ chức. Mặt khác, những kết quả đạt được trong khảo sát, nghiên cứu về dược liệu của các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương trong những năm qua còn khiêm tốn, các giải pháp đưa ra 10 chưa phù hợp với thực tế dẫn tới khi tiến hành ứng dụng, dụng triển khai trong thực tế chưa đem lại hiệu quả, còn nhiều thiếu sót hạn chế. Gần đây, dé khắc phục những tồn tại này, trong công trình nghiên cứu của (Trần Ngọc Ca, cùng các cộng sự, 2013) thuộc Hội đồng Chính sách khoa học và công nghệ quốc gia với đề tài “phân tích và đề xuất một số giải pháp chính sách về liên kết 4 nhà (nhà nước, nhà khoa học, nhà nông và nhà doanh nghiệp) trong phát triển dược liệu ở Việt Nam” đã đề cập cụ thể hơn về cơ chế, chính sách dành cho “các nhà” khi tham gia liên kết, trong đó nhân mạnh việc Nhà nước phải đứng vai trò chủ đạo trong liên kết này, đồng thời đưa ra các chính sách cho “các nhà” phù hợp với thực tế ở từng địa phương.
Tiếp theo, ngày 30/10/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1976/QĐ-TTg về việc “Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030”. Mặc dù các chính phủ của các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam đã có nhiều chủ trương trong việc phát triển dược liệu, nhưng trong những năm qua những công trình nghiên cứu về chủ đề này trên thế giới và Việt Nam cũng còn ít, chưa được quan tâm nghiên cứu một cách bài bản và có hệ thống. Tuy nhiên, có thể thấy trong những năm qua, đã có một số công trình tiêu biểu nghiên cứu về chủ đề này như: Nghiên cứu của Chengzi (2013), Tăng cường mối quan hệ nông dân và doanh nghiệp trong phát triển dược liệu ở Trung Quốc hiện nay, Tạp chí cây thuốc số 121. Tác giả đã chỉ ra được tiềm năng, lợi thế của Trung Quốc trong phát triển được liệu ở tat cả các vùng trên đất nước, đặc biệt là nếu tăng cường sự liên kết chặt chẽ giữa các bên tham gia thì tiềm năng dược liệu của Trung Quốc có thể trở thành mặt hàng xuất khẩu chính đứng sau các sản phẩm rau, quả trong hệ thống các sản phẩm nông nghiệp chủ đạo.
Bên cạnh đó, tác giả cũng đã khái quát thực trạng phát triển dược liệu tại Trung Quốc từ những năm 80 của thế kỷ 20 cho đến nay và mối quan hệ hợp tác giữa người nông dân với doanh nghiệp trong phát triển dược liệu tại Trung Quốc. Tác giả chỉ ra những khó khăn thách thức của quá trình hợp tác giữa nông dân và doanh nghiệp trong từng giai đoạn là những cam kết về cung cấp giống 11 và tiêu thụ dược liệu giữa người dân và doanh nghiệp chưa chặt chẽ. Mặt khác, do yêu cầu của doanh nghiệp đối với chất lượng được liệu đòi hỏi cao hơn so với thực tiễn khiến cho mối quan hệ giữa nông dân và doanh nghiệp bị ran nứt. Tác giả cũng đưa ra kiến nghị cần có Nhà nước tham gia sâu vào quá trình này vừa có thể đáp ứng được yêu cầu phát triển dược liệu theo quy hoạch vừa làm trọng tài để mối quan hệ này được cải thiện hơn.
Trong nghiên cứu của Trần Văn Ơn (2015) về “phát triển dược liệu Quảng Ninh trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và hội nhập” đưa ra quan điểm: Việc phát triên được liệu ở Quảng Ninh - Việt Nam cần được triên khai một cách có hệ thống, đồng bộ và đột phá. Nghĩa là việc phát triển dược liệu không đơn thuần là chỉ là mời gọi một số doanh nghiệp lập dự án đầu tư, giãn dân lấy đất,.