Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng theo hướng bền vững. Chương 2: Thực trạng phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng theo hướng bền vững ở tỉnh Ninh Bình. 15 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP SẢN XUẤT VẬT LIỆU XÂY DỰNG THEO HƢỚNG BỀN VỮNG 1.
Khái niệm và vai trò của phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng theo hƣớng bền vững 1. Các khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm vật liệu xây dựng Vật liệu xây dựng là sản phẩm có nguồn gốc hữu cơ, vô cơ, kim loại được sử dụng để tạo nên công trình xây dựng, trừ các trang thiết bị điện. Khái niệm công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng Công nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hoá vật chất mà sản phẩm được "chế tạo, chế biến" cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo. Đây là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của các tiến bộ về công nghệ, khoa học và kỹ thuật.
Một nghĩa rất phổ thông khác của công nghiệp là "hoạt động kinh tế quy mô lớn, sản phẩm (có thể là phi vật thể) tạo ra trở thành hàng hóa". Theo nghĩa này, những hoạt động kinh tế chuyên sâu khi đạt được một quy mô nhất định sẽ trở thành một ngành công nghiệp, ngành kinh tế như: công nghiệp phần mềm máy tính, công nghiệp điện ảnh, công nghiệp giải trí, công nghiệp thời trang, công nghiệp báo chí, v.wikipedia) Dựa trên khái niệm về công nghiệp và khái niệm về vật liệu xây dựng. Tác giả đưa ra khái niệm về công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng như sau: 16 Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng mà sản phẩm được chế tạo, chế biến cho nhu cầu của ngành xây dựng. Đây là hoạt động kinh tế sản xuất có quy mô lớn, được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của các tiến bộ về công nghệ, khoa học và kỹ thuật.
Khái niệm về phát triển bền vững Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa. Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, địa lý, văn hoá. riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó. Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học".
Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland). Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền vững là "sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ. Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội.
phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường. 17 Sau đó, năm 1992, tại Rio de Janeiro, các đại biểu tham gia Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc đã xác nhận lại khái niệm này, và đã gửi đi một thông điệp rõ ràng tới tất cả các cấp của các chính phủ về sự cấp bách trong việc đẩy mạnh sự hòa hợp kinh tế, phát triển xã hội cùng với bảo vệ môi trường. Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững (còn gọi là Hội nghị Rio +10 hay Hội nghị thượng đỉnh Johannesburg) nhóm họp tại Johannesburg, Cộng hòa Nam Phi với sự tham gia của các nhà lãnh đạo cũng như các chuyên gia về kinh tế, xã hội và môi trường của gần 200 quốc gia đã tổng kết lại kế hoạch hành động về phát triển bền vững 10 năm qua và đưa ra các quyết sách liên quan tới các vấn đề về nước, năng lượng, sức khỏe, nông nghiệp và sự đa dạng sinh thái. Theo Tổ chức ngân hàng phát triển Châu Á (ADB): “Phát triển bền vững là một loại hình phát triển mới, lồng ghép quá trình sản xuất với bảo tồn tài nguyên và nâng cao chất lượng môi trường.
Phát triển bền vững cần phải đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng của chúng ta đáp ứng các nhu cầu của thế hệ trong tương lai”. Hội nghị thượng đỉnh Trái đất về môi trường và phát triển tổ chức tại Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 và Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững tổ chức Johannesburg (cộng hoà Nam Phi) năm 2002 đã xác định: Phát triển bền vững là quá trình có kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: Phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Ba vấn đề trụ cột của phát triển bền vững đó là: Phát triển kinh tế: nhất là tăng trưởng kinh tế Phát triển xã hội: nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm 18 - Bảo vệ môi trường: nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường, phòng chống cháy và chặt phá rừng, khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên. Nếu phân tích kỹ hơn thì giữa phát triển truyền thống và PTBV có hàng loạt điểm khác biệt có tính chất nguyên tắc (Bảng 1.
Từ sự phát triển đến phát triển bền vững Tiêu chí Từ phát triển Đến phát triển bền vững Trụ cột Kinh tế (xã hội) Hài hòa kinh tế - xã hội - môi trường Trung tâm Của cải vật chất/ hàng hóa Con người Điều kiện cơ bản Tài nguyên thiên nhiên Tài nguyên con người Chủ thể quản lý Một chủ thể (Nhà nước) Nhiều chủ thể Quan hệ với tự nhiên Khai thác/Cải tạo tự nhiên Bảo tồn/ Sử dụng hợp lý tự nhiên Giới Nam quyền Bình đẳng nam, nữ Tính chất Kinh tế truyền thống Kinh tế trí thức Cách tiếp cận Đơn ngành/liên ngành Liên ngành cao thấp 1. Khái niệm phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng theo hướng bền vững Tiếp thu có chọn lọc khái niệm phát triển bền vững nói chung và các khái niệm đã có; khái niệm về vật liệu xây dựng, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng tác giả đưa ra khái niệm phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng theo hướng bền vững như sau: Phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng theo hướng bền vững là sự phát triển của công nghiệp trong lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại nhưng không làm ảnh hưởng đến khả năng phát triển trong tương lai, là sự phát triển kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường trong quá trình sản xuất vật liệu xây dựng. Vai trò của phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng theo hướng bền vững 1. Vai trò của phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng theo hướng bền vững đối với kinh tế.
Nghĩa là đạt sự tăng trưởng ổn định, đáp ứng được yêu cầu nâng cao đời sống của nhân dân, tránh được sự suy thoái hoặc đình trệ trong tương lai, tránh để lại gánh nặng nợ nần cho thế hệ mai sau. Vai trò này đối với phát triển bền vững công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng được cụ thể hơn: Một là, trong quá trình công nghiệp hoá đất nước, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng là ngành có đóng góp vượt trội vào tăng trưởng kinh tế so với các ngành khác, đặc biệt là so với nông nghiệp. Hai là, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng có vai trò to lớn đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước theo hướng CNH, HĐH. Vai trò của phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng theo hướng bền vững đối với xã hội Một là, sự phát triển của công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng tạo điều kiện để thu hút lực lượng lao động dư thừa trong nông nghiệp vào các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng.
Hai là, sự phát triển của công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng gắn liền với quá trình đô thị hoá và phân bố lại dân cư và lao động. Việc phân bố lại được thực hiện theo hướng: tỷ trọng dân cư và lao động khu vực nông thôn giảm dần, tỷ trọng dân cư và lao động trong khu vực đô thị tăng dần; tỷ trọng lao động trong nông nghiệp giảm dần và tỷ trọng lao động trong công nghiệp và dịch vụ tăng dần. Ba là, phân bố công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng trên không gian lãnh thổ một cách hợp lý tạo điều kiện khai thác được tiềm năng, thế mạnh của từng vùng tạo điều kiện phát triển kinh tế vùng. Nhờ đó, việc huy động 20 các nguồn lực tại chỗ, đặc biệt là lực lượng lao động của vùng tham gia vào hoạt động kinh tế, đã tạo việc làm, tăng thu nhập, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các vùng.Vai trò của phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây theo hướng bền vững đối với tài nguyên môi trường.
Khoa học công nghệ phát triển đã mang đến cho công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng sản xuất ra những thiết bị, sản phẩm, công nghệ tiết kiệm tài nguyên, thân thiện hơn với môi trường và góp phần xử lý tình trạng ô nhiễm môi trường.