Đặt vấn đề 'Từ trước đến nay, từ khi được sinh ra, dần lớn lên, tham gia vào quá trình xã hội 'kớt cá nhân, như một lẽ tự nhiên, con người nói chung, từng cá nhân nói riêng luôn khao khát tìm hiển, khám phá thé giới xung quanh mình, nghĩa là bắt đầu có hoạt động. nhận thức vá tham gia vào quá trình nhận thức. Chính vi vậy, vấn đề nhận thức luôn là một trong những vẫn đề thu hút sự quan tâm của các ngành khos học, đặc biệt là khoa. học triết học.
Đến nay, vấn đề nhận thức nói chung, nhận thức khoa học nói riềng vẫn. đang tiếp tục được các ngành khoa học nghiên cứu, bể sung và phát triển nhằm git cho con người ngày cảng hoàn thiện hơn, làm giàu thêm những tri thức, hiểu biết của minh về thế giới hiện thực; th đó, tiền gần hơn đến chân lý.1, Khái niệm nhận thức và các giai đoạn/trình độ nhận thức 2. Khái niệm nhận thức. Nhận thúc là hành động hay quả trình tiếp thu kiến thức và những am hiểu thông qua suy nghĩ, kinh nghiệm và giác quan, bao gồm các qui rink như tr thúc, sự Q chú ý, nhớ, trí sự đánh giá, sự ước lượng, sự lí luận, sự tính toán, việc giải quyết vấn.
đề, việc đưa ra quyết định, sự lĩnh hội và việc sử dụng ngôn ngữ ‘Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, nhận thức là quá trình biện chứng của sự. phan ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tién đến gần khách thể. ‘Theo quan điểm của triết học Mác - Lénin, nhận thức là một quá trình phức tạp, được bắt đầu từ việc xem xét các sự vật, hiện tượng một cách trực tiếp, tích cực, sáng. tạo và dựa trên cơ sở thực tiễn.
Nhận thức không phải là một quá trình thuần tuý trừu. tượng hay thudn tuý cụ thé, mà là sự phan ánh vào ý thức những hoạt động thực tiễn của con người dưới dang ý niệm và biểu tượng. Vượt ra ngoài giới bạn của hoạt động ° mai: ngoaatpbanfS/Qgmal'eom, BM Xã hội bọ, Khoa lý hộn chinh 7 Kom: ps: wikipedia erghtBiNgn thức 1 thực tiễn sẽ không có quá trình nhận thức, "Nhận thức là qué trình phản ánh hiện thực. khách quan bởi con người, là quá trình to thành tri thúc trong bộ óc con người về hiện thực khách quan”, "Như vậy, nhận thức là một quá trình phản ánh tich cực, We giác và sáng tạo thể giới khách quan vào bộ óc con người trên cơ sở thực tiễn nhằm sáng tạo ra những tri thức vé thé giới khách quan.
'Nhận thức là sự phản ánh giới tự nhiên bởi con người, đi từ chưa biết đến biết, từ biết chưa đẩy đủ, chưa sâu sắc đến ngày cing day đủ, sâu sắc hơn vẻ sự vật, hiện tượng.2, Cúc giai dognitrink độ nhận thức 'Nhận thức của con người là một quá trình, trong đó có nhiều giai đoạn, trình 4, vòng khâu và hình thức khác nhau; chúng có nội dung cũng như vai trò khác nhau đối nhận thức sự vật, hiện tượng, a) Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính 'Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính là những giai đoạn khác nhau của cùng, một quá trình nhận thức thống nhất. ~ Nhận thức câm tính (còn gọi là trực quan sinh động) là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức, được thể hiện ở ba hình thức là cảm giác, tri giác và biểu tượng. Cảm giác là hình thức đầu tiên quan trọng nhất của nhận thức cảm tính và là nguồn gốc của mọi hiểu biết của con người. Trong khi tác động lên các giác quan con người, các đối tượng bên ngoài gây ra những cảm giác khác nhau (màu sắc, hình.
dang, độ cứng, mùi, vị. Cảm giác là hình ảnh cảm tính đơn giản nhất từ các thuc rẽ của đối tượng. Nó là kết quả tác độngcủa các đối tượng khách quan, tôn tính riêng tại bên ngoài vào các giác quan. Mọi tri thức vé các hiện tượng bên ngoài đều bắt đầu.
từ sự phan ánh cảm tính chúng thành các cảm giác. Lénin khẳng định: “Tiền đề đầu tiên của Ii luận về nhận thức chắc chắn là ở chỗ cho rằng cảm giác là nguồn gốc. duy nhất của hiểu biết của chúng ta”. Lénin nhắn mạnh: “Nêu khôm những hình thức của vật chất thông qua cảm giác thì chúng ta không the biết giTuyvề nhiên, cũng như về những hình thức của vận dong”.
cảm giác chỉ phản ánh. những thuộc tính riêng rẽ của đối tượng, còn hình ảnh chính thé của đối tượng xuất hiện trong ý thức của con người bằng hình thức nhận thức cao hơn là Tri giác là ting hợp nhiều cảm giác có liên hệ chặt chẽ với nhau, đem lại cho con người sự hình dung đồng thời vẻ nhiều thuộc tính của đổi tượng. Tri giác xuất hiện trên cơ sở của cảm giác, song nó tuyệt nhiên không phải là tổng s6 máy móc các. Tri giác là hình ảnh cảm tính khá toàn vẹn về đối tượng phản ánh cùng lúc bằng các giác quan khác nhau.
ˆ Hội đồng Tang tong oh doo bến soạn giáo nh quất g các bộ ni Koa lọc Mắt Linh, tường H Chỉ Min Gio rn học Me- Loin, Chih rude gia Hà Nội 908, 344 VÌ Lôi, Toàn tp, Nb. TW, Maaco, 1981, 618 107 * VN Lenin, Tost, Nab. Ti, Matscova, 1981, 18,374 2 là hình ảnh của đối tượng được lưu giữ lại trong trí nhớ. trực tiếp nhiều lần với đối tượng sẽ để lại trong đầu óc con người những ấn tượng, hình ảnh về đối tượng đó.
Những ấn tượng, hình ảnh này đậm nét đến mức có. thể hiện lên trong ký ức của con người ngay cả khi đối tượng không còn ở trước mắt. ‘Nhu vậy, biểu tượng là hình ảnh cảm tính về những đối tượng mà con người đã thu nhận từ trước, nhưng giờ đây chúng không tác động rực tiếp vào các giác quan nữa. Đó là sự tái tạo lại trong ý thức hình ảnh những đổi tượng đã tác động lên các giác quan, đã được thu nhận trong quá khứ và được lưu giữ lại trong trí nhớ của con người.
“Xuất hiện trên cơ sở cảm giác, tri giác và là hình ảnh trực quan - cảm tính về các đối tượng, biểu tượng tham gia vào nắc thang nhận thức đầu tiên - trực quan sinh. động; song điều đó không có nghĩa rằng các biểu tượng chỉ là bản sao mờ nhạt, yếu ót từ những tri giác xa xôi, mà trong biểu tượng đã chứa đựng những yếu tổ có tính khái 4quat hoá, làm cho nó trở thành hình thức phân ánh cảm tính cao hơn so với cảm giác và trí giác. Mặc dù là kết quả của kinh nghiệm phong phú, của những tri giác quá. khứ, nhưng các biểu tượng giữ vai trò đáng ké cả ở nắc thang thứ hai của nhận thức - nhận thức lý tính.
- Nhận thức lý tính (còn gọi là tư duy trừu tượng) là giai đoạn tiếp theo và cao. hơn về chất của quá trình nhận thức, nay sinh trên cơ sở nhận thức cảm tính. Nếu chi bằng cảm giác, tri giác, biểu tượng thì nhận thức của con người sẽ rất hạn chế bởi lẽ con người không thé chi bằng cảm. giác mà hiểu được những thứ như tốc độ ánh sáng, gid trị của hàng hóa, quan hệ giai cấp.
nghiệm tự nó không bao giờ có. tế: chứng minh được day đủ tính tắt yếu”. Ăngghen viết: “Sy quan sát dựa vào kinh hiểu được những thứ đó thi nhất thiết phải nhờ cậy đến sức mạnh của nhận thức lý tính. Nhận thức lý tính được thể hiện ở các hình thức khái niệm, phán đoán và suy lý.
hái niệm là một hình thức légic của tư duy, phản ánh một cách gián tiếp va khái quát về đối tượng thông qua những mối liên hệ, thuộc tính bản chất, phổ biến. “Thực chất, nó phân ánh những thuộc tinh bản chất, tất yếu và chung nhất của đối tượng. Dù chúng ta có xét bắt ki tư duy nào - đơn giản nhất hay phức tạp nhất, tư duy lôgíc hình thức sơ ding hay tư duy biện chứng, lí luận khoa học, thì chúng đều luôn cdiễn ra nhờ các khái niệm. Khái niệm là hình thức cơ sở cho mọi quá trình tư duy.
Phén đoán là một hình thức logic của tư duy, phản ánh về sự tồn tại hay khong tổn tại của thuộc tính nào đó của. đãi tượng, mdi liên hệ của nó với các đối tượng, khác. Mọi tư tưởng khẳng định hay phủ định cái gi đó đều được thé hiện dưới dạng phán đoán. Khác với khái niệm vốn phản ánh tổng thể các thuộc tính của đối tượng, phán đoán phản ánh những mối liên hệ giữa các đối tượng và bên trong chính đối tượng, giữa các đối tượng và những thuộc tính của chúng.
Tư duy trước hết là thể hiện (bằng nói, viết hoặc trong tư tưởng) các phán đoán, tức là phán xét về các đối tượng, hiện tượng và các thuộc tính của chúng. Phan đoán gắn bồ chặt chẽ với khái “Cate và Ph Angghen Toàn tập, hô, Chíh tr quốc giy Hà Nộ, 04, £20, 728. Mối liên hệ đó thé hiện ở ba điểm. 7Öứ nhát, trong thành phần của phán đoán.
nhất thiết phải có các khái niệm. Tht hai, không một khái niệm nào có thể được định. hình mà thiếu phán đoán, 7hứ ba, chỉ có thể vạch mở nội dung của khái niệm nhờ các. phán đoán, bởi vạch mở nội dung của khái niệm tức là định nghĩa khái niệm đó, cũng, tức là liệt kê những thuộc tinh bản chất của đối tượng được phản ánh trong khái niệm.
Chí có thé thực hiện việc đó nhờ các phán đoán. Suy lí là một hình thức của tư duy trừu tượng, trong đó xuất phát từ một hoặc. nhiều phán đoán tiền đề để rút ra phán đoán mới làm kết luận. Suy lí là thao tác tư duy mà nhờ đó từ một số các phán đoán rút ra được những phán đoán mới về đối tượng.
Suy lí là công cụ nhận thức khoa học mạnh mẽ của tư duy tri tượng, thé hiện quá trình vận động của tư duy đi từ những cái đã biết đến nhận thức những cái chưa biết một cách gián tiếp. ‘Tu duy trina tượng dưới các hình thức nêu trên cho con người khả năng nhận. thức sâu sắc và dy đủ hơn thé giới khách quan, khám phá những mặt, những môi liên hệ, những tính quy luật ban chất và quan trọng nhất của hiện thực. Vì thé nó là nắc thang nhận thức cao nhất của con người về thé giới.
"Nhận thức cảm tính và nhận thức If tính luôn tổn tại trong mối liên hệ biện chứng, liên quan mật thiết với nhau. Trước hết, nhận thức lí tinh phải dựa vào kết quả. của nhận thức cảm tính, nó nhất định phải lấy cái kết quả trước đó làm cơ sở.