Kỷ yếu hội thảo khoa học cấp khoa phát huy vai trò chủ thể nhận thức của sinh viên trong quá trình đào tạo ở trường đại học luật hà nộ

Tài liệu nghiên cứu Kỷ yếu hội thảo khoa học cấp khoa phát huy vai trò chủ thể nhận thức của sinh viên trong quá trình, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Đại học Luật Hà Nội

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

bài viết
84
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Khái niệm nhận thức và các giai đoạn/trình độ nhận thức

1.1.1. Khái niệm nhận thức

1.1.2. Các giai đoạn/trình độ nhận thức

1.1.2.1. Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính
1.1.2.2. Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận
1.1.2.3. Nhận thức thông thường và nhận thức khoa học

Tóm tắt

I. Vai trò chủ thể nhận thức của sinh viên

Vai trò chủ thể nhận thức của sinh viên trong đào tạo đại học luật Hà Nội là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng giáo dục. Sinh viên không chỉ là đối tượng tiếp nhận kiến thức mà còn là chủ thể tích cực, sáng tạo trong quá trình học tập. Theo quan điểm triết học Mác - Lênin, nhận thức là quá trình phản ánh thế giới khách quan thông qua hoạt động thực tiễn. Sinh viên cần phát huy tư duy phản biện, kỹ năng mềm và khả năng tự học để trở thành những chuyên gia pháp lý tương lai.

1.1. Khái niệm nhận thức và các giai đoạn nhận thức

Nhận thức được định nghĩa là quá trình tiếp thu kiến thức thông qua suy nghĩ, kinh nghiệm và giác quan. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào ý thức con người. Quá trình này bao gồm hai giai đoạn: nhận thức cảm tínhnhận thức lý tính. Nhận thức cảm tính dựa trên các giác quan, trong khi nhận thức lý tính đòi hỏi tư duy trừu tượng và khái quát. Sinh viên cần kết hợp cả hai giai đoạn để hiểu sâu sắc các vấn đề pháp lý.

1.2. Chủ thể nhận thức trong giáo dục đại học

Trong giáo dục đại học, sinh viên là chủ thể nhận thức khi tham gia vào các hoạt động xã hội và học tập. Họ cần phát huy tính chủ động, sáng tạo để tiếp thu kiến thức và kỹ năng. Theo tác giả Ngô Văn Nhân, sinh viên cần hướng tới các mục tiêu về tri thức khoa học, kỹ năng nghề nghiệp và phát triển nhân cách. Điều này đòi hỏi sự tích cực tham gia và tư duy phản biện trong quá trình học tập.

II. Đào tạo đại học luật Hà Nội và phát huy vai trò sinh viên

Đào tạo đại học luật Hà Nội hướng tới việc phát triển toàn diện năng lực của sinh viên. Chương trình đào tạo không chỉ cung cấp kiến thức chuyên môn mà còn rèn luyện kỹ năng thực hành pháp luật. Sinh viên cần được hỗ trợ học tập thông qua các phương pháp giảng dạy hiện đại, khuyến khích tư duy độc lập và sáng tạo.

2.1. Mục tiêu đào tạo và phát triển kỹ năng

Mục tiêu của đào tạo luật là trang bị cho sinh viên kiến thức pháp lý vững vàng và kỹ năng thực hành. Sinh viên cần rèn luyện các kỹ năng như soạn thảo văn bản, phân tích pháp lý và giải quyết vấn đề. Quá trình này đòi hỏi sự chủ động và tích cực tham gia của sinh viên. Theo tác giả Lê Thanh Thập, việc phát triển kỹ năng mềm là yếu tố quan trọng để sinh viên thành công trong nghề nghiệp.

2.2. Phương pháp giảng dạy và hỗ trợ học tập

Phương pháp giảng dạy tại Đại học Luật Hà Nội cần được đổi mới để phù hợp với nhu cầu của sinh viên. Các phương pháp như thảo luận nhóm, nghiên cứu tình huống và thực hành pháp luật giúp sinh viên phát huy tư duy phản biện. Ngoài ra, việc hỗ trợ học tập thông qua các nguồn tài liệu và công nghệ thông tin cũng là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả đào tạo.

III. Đánh giá và định hướng nghề nghiệp cho sinh viên

Đánh giá sinh viên trong quá trình đào tạo cần dựa trên cả kiến thức lý thuyết và kỹ năng thực hành. Sinh viên cần được định hướng nghề nghiệp rõ ràng để phát triển bền vững trong lĩnh vực pháp lý. Việc kết hợp giữa lý luận và thực tiễn là yếu tố then chốt để sinh viên trở thành những chuyên gia pháp lý có năng lực.

3.1. Đánh giá kết quả học tập

Đánh giá sinh viên cần được thực hiện một cách toàn diện, bao gồm cả kiến thức lý thuyết và kỹ năng thực hành. Các bài kiểm tra, bài tập tình huống và thực tập tại các cơ quan pháp lý là những phương pháp hiệu quả để đánh giá năng lực của sinh viên. Theo tác giả Trần Hồng Tháp, việc đánh giá cần khách quan và công bằng để khuyến khích sinh viên phát huy tối đa tiềm năng của mình.

3.2. Định hướng nghề nghiệp và phát triển bền vững

Định hướng nghề nghiệp là yếu tố quan trọng giúp sinh viên xác định mục tiêu và lộ trình phát triển trong lĩnh vực pháp lý. Sinh viên cần được hỗ trợ thông qua các chương trình tư vấn nghề nghiệp và cơ hội thực tập tại các cơ quan pháp lý. Việc kết hợp giữa lý luận và thực tiễn giúp sinh viên phát triển bền vững và đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề 'Từ trước đến nay, từ khi được sinh ra, dần lớn lên, tham gia vào quá trình xã hội 'kớt cá nhân, như một lẽ tự nhiên, con người nói chung, từng cá nhân nói riêng luôn khao khát tìm hiển, khám phá thé giới xung quanh mình, nghĩa là bắt đầu có hoạt động. nhận thức vá tham gia vào quá trình nhận thức. Chính vi vậy, vấn đề nhận thức luôn là một trong những vẫn đề thu hút sự quan tâm của các ngành khos học, đặc biệt là khoa. học triết học.

Đến nay, vấn đề nhận thức nói chung, nhận thức khoa học nói riềng vẫn. đang tiếp tục được các ngành khoa học nghiên cứu, bể sung và phát triển nhằm git cho con người ngày cảng hoàn thiện hơn, làm giàu thêm những tri thức, hiểu biết của minh về thế giới hiện thực; th đó, tiền gần hơn đến chân lý.1, Khái niệm nhận thức và các giai đoạn/trình độ nhận thức 2. Khái niệm nhận thức. Nhận thúc là hành động hay quả trình tiếp thu kiến thức và những am hiểu thông qua suy nghĩ, kinh nghiệm và giác quan, bao gồm các qui rink như tr thúc, sự Q chú ý, nhớ, trí sự đánh giá, sự ước lượng, sự lí luận, sự tính toán, việc giải quyết vấn.

đề, việc đưa ra quyết định, sự lĩnh hội và việc sử dụng ngôn ngữ ‘Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, nhận thức là quá trình biện chứng của sự. phan ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tién đến gần khách thể. ‘Theo quan điểm của triết học Mác - Lénin, nhận thức là một quá trình phức tạp, được bắt đầu từ việc xem xét các sự vật, hiện tượng một cách trực tiếp, tích cực, sáng. tạo và dựa trên cơ sở thực tiễn.

Nhận thức không phải là một quá trình thuần tuý trừu. tượng hay thudn tuý cụ thé, mà là sự phan ánh vào ý thức những hoạt động thực tiễn của con người dưới dang ý niệm và biểu tượng. Vượt ra ngoài giới bạn của hoạt động ° mai: ngoaatpbanfS/Qgmal'eom, BM Xã hội bọ, Khoa lý hộn chinh 7 Kom: ps: wikipedia erghtBiNgn thức 1 thực tiễn sẽ không có quá trình nhận thức, "Nhận thức là qué trình phản ánh hiện thực. khách quan bởi con người, là quá trình to thành tri thúc trong bộ óc con người về hiện thực khách quan”, "Như vậy, nhận thức là một quá trình phản ánh tich cực, We giác và sáng tạo thể giới khách quan vào bộ óc con người trên cơ sở thực tiễn nhằm sáng tạo ra những tri thức vé thé giới khách quan.

'Nhận thức là sự phản ánh giới tự nhiên bởi con người, đi từ chưa biết đến biết, từ biết chưa đẩy đủ, chưa sâu sắc đến ngày cing day đủ, sâu sắc hơn vẻ sự vật, hiện tượng.2, Cúc giai dognitrink độ nhận thức 'Nhận thức của con người là một quá trình, trong đó có nhiều giai đoạn, trình 4, vòng khâu và hình thức khác nhau; chúng có nội dung cũng như vai trò khác nhau đối nhận thức sự vật, hiện tượng, a) Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính 'Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính là những giai đoạn khác nhau của cùng, một quá trình nhận thức thống nhất. ~ Nhận thức câm tính (còn gọi là trực quan sinh động) là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức, được thể hiện ở ba hình thức là cảm giác, tri giác và biểu tượng. Cảm giác là hình thức đầu tiên quan trọng nhất của nhận thức cảm tính và là nguồn gốc của mọi hiểu biết của con người. Trong khi tác động lên các giác quan con người, các đối tượng bên ngoài gây ra những cảm giác khác nhau (màu sắc, hình.

dang, độ cứng, mùi, vị. Cảm giác là hình ảnh cảm tính đơn giản nhất từ các thuc rẽ của đối tượng. Nó là kết quả tác độngcủa các đối tượng khách quan, tôn tính riêng tại bên ngoài vào các giác quan. Mọi tri thức vé các hiện tượng bên ngoài đều bắt đầu.

từ sự phan ánh cảm tính chúng thành các cảm giác. Lénin khẳng định: “Tiền đề đầu tiên của Ii luận về nhận thức chắc chắn là ở chỗ cho rằng cảm giác là nguồn gốc. duy nhất của hiểu biết của chúng ta”. Lénin nhắn mạnh: “Nêu khôm những hình thức của vật chất thông qua cảm giác thì chúng ta không the biết giTuyvề nhiên, cũng như về những hình thức của vận dong”.

cảm giác chỉ phản ánh. những thuộc tính riêng rẽ của đối tượng, còn hình ảnh chính thé của đối tượng xuất hiện trong ý thức của con người bằng hình thức nhận thức cao hơn là Tri giác là ting hợp nhiều cảm giác có liên hệ chặt chẽ với nhau, đem lại cho con người sự hình dung đồng thời vẻ nhiều thuộc tính của đổi tượng. Tri giác xuất hiện trên cơ sở của cảm giác, song nó tuyệt nhiên không phải là tổng s6 máy móc các. Tri giác là hình ảnh cảm tính khá toàn vẹn về đối tượng phản ánh cùng lúc bằng các giác quan khác nhau.

ˆ Hội đồng Tang tong oh doo bến soạn giáo nh quất g các bộ ni Koa lọc Mắt Linh, tường H Chỉ Min Gio rn học Me- Loin, Chih rude gia Hà Nội 908, 344 VÌ Lôi, Toàn tp, Nb. TW, Maaco, 1981, 618 107 * VN Lenin, Tost, Nab. Ti, Matscova, 1981, 18,374 2 là hình ảnh của đối tượng được lưu giữ lại trong trí nhớ. trực tiếp nhiều lần với đối tượng sẽ để lại trong đầu óc con người những ấn tượng, hình ảnh về đối tượng đó.

Những ấn tượng, hình ảnh này đậm nét đến mức có. thể hiện lên trong ký ức của con người ngay cả khi đối tượng không còn ở trước mắt. ‘Nhu vậy, biểu tượng là hình ảnh cảm tính về những đối tượng mà con người đã thu nhận từ trước, nhưng giờ đây chúng không tác động rực tiếp vào các giác quan nữa. Đó là sự tái tạo lại trong ý thức hình ảnh những đổi tượng đã tác động lên các giác quan, đã được thu nhận trong quá khứ và được lưu giữ lại trong trí nhớ của con người.

“Xuất hiện trên cơ sở cảm giác, tri giác và là hình ảnh trực quan - cảm tính về các đối tượng, biểu tượng tham gia vào nắc thang nhận thức đầu tiên - trực quan sinh. động; song điều đó không có nghĩa rằng các biểu tượng chỉ là bản sao mờ nhạt, yếu ót từ những tri giác xa xôi, mà trong biểu tượng đã chứa đựng những yếu tổ có tính khái 4quat hoá, làm cho nó trở thành hình thức phân ánh cảm tính cao hơn so với cảm giác và trí giác. Mặc dù là kết quả của kinh nghiệm phong phú, của những tri giác quá. khứ, nhưng các biểu tượng giữ vai trò đáng ké cả ở nắc thang thứ hai của nhận thức - nhận thức lý tính.

- Nhận thức lý tính (còn gọi là tư duy trừu tượng) là giai đoạn tiếp theo và cao. hơn về chất của quá trình nhận thức, nay sinh trên cơ sở nhận thức cảm tính. Nếu chi bằng cảm giác, tri giác, biểu tượng thì nhận thức của con người sẽ rất hạn chế bởi lẽ con người không thé chi bằng cảm. giác mà hiểu được những thứ như tốc độ ánh sáng, gid trị của hàng hóa, quan hệ giai cấp.

nghiệm tự nó không bao giờ có. tế: chứng minh được day đủ tính tắt yếu”. Ăngghen viết: “Sy quan sát dựa vào kinh hiểu được những thứ đó thi nhất thiết phải nhờ cậy đến sức mạnh của nhận thức lý tính. Nhận thức lý tính được thể hiện ở các hình thức khái niệm, phán đoán và suy lý.

hái niệm là một hình thức légic của tư duy, phản ánh một cách gián tiếp va khái quát về đối tượng thông qua những mối liên hệ, thuộc tính bản chất, phổ biến. “Thực chất, nó phân ánh những thuộc tinh bản chất, tất yếu và chung nhất của đối tượng. Dù chúng ta có xét bắt ki tư duy nào - đơn giản nhất hay phức tạp nhất, tư duy lôgíc hình thức sơ ding hay tư duy biện chứng, lí luận khoa học, thì chúng đều luôn cdiễn ra nhờ các khái niệm. Khái niệm là hình thức cơ sở cho mọi quá trình tư duy.

Phén đoán là một hình thức logic của tư duy, phản ánh về sự tồn tại hay khong tổn tại của thuộc tính nào đó của. đãi tượng, mdi liên hệ của nó với các đối tượng, khác. Mọi tư tưởng khẳng định hay phủ định cái gi đó đều được thé hiện dưới dạng phán đoán. Khác với khái niệm vốn phản ánh tổng thể các thuộc tính của đối tượng, phán đoán phản ánh những mối liên hệ giữa các đối tượng và bên trong chính đối tượng, giữa các đối tượng và những thuộc tính của chúng.

Tư duy trước hết là thể hiện (bằng nói, viết hoặc trong tư tưởng) các phán đoán, tức là phán xét về các đối tượng, hiện tượng và các thuộc tính của chúng. Phan đoán gắn bồ chặt chẽ với khái “Cate và Ph Angghen Toàn tập, hô, Chíh tr quốc giy Hà Nộ, 04, £20, 728. Mối liên hệ đó thé hiện ở ba điểm. 7Öứ nhát, trong thành phần của phán đoán.

nhất thiết phải có các khái niệm. Tht hai, không một khái niệm nào có thể được định. hình mà thiếu phán đoán, 7hứ ba, chỉ có thể vạch mở nội dung của khái niệm nhờ các. phán đoán, bởi vạch mở nội dung của khái niệm tức là định nghĩa khái niệm đó, cũng, tức là liệt kê những thuộc tinh bản chất của đối tượng được phản ánh trong khái niệm.

Chí có thé thực hiện việc đó nhờ các phán đoán. Suy lí là một hình thức của tư duy trừu tượng, trong đó xuất phát từ một hoặc. nhiều phán đoán tiền đề để rút ra phán đoán mới làm kết luận. Suy lí là thao tác tư duy mà nhờ đó từ một số các phán đoán rút ra được những phán đoán mới về đối tượng.

Suy lí là công cụ nhận thức khoa học mạnh mẽ của tư duy tri tượng, thé hiện quá trình vận động của tư duy đi từ những cái đã biết đến nhận thức những cái chưa biết một cách gián tiếp. ‘Tu duy trina tượng dưới các hình thức nêu trên cho con người khả năng nhận. thức sâu sắc và dy đủ hơn thé giới khách quan, khám phá những mặt, những môi liên hệ, những tính quy luật ban chất và quan trọng nhất của hiện thực. Vì thé nó là nắc thang nhận thức cao nhất của con người về thé giới.

"Nhận thức cảm tính và nhận thức If tính luôn tổn tại trong mối liên hệ biện chứng, liên quan mật thiết với nhau. Trước hết, nhận thức lí tinh phải dựa vào kết quả. của nhận thức cảm tính, nó nhất định phải lấy cái kết quả trước đó làm cơ sở.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Phát huy vai trò chủ thể nhận thức của sinh viên trong đào tạo đại học luật Hà Nội" tập trung vào việc nâng cao nhận thức và vai trò chủ động của sinh viên trong quá trình học tập tại Đại học Luật Hà Nội. Nó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển kỹ năng tư duy phản biện, khả năng tự học và sự tham gia tích cực vào các hoạt động học thuật. Điều này không chỉ giúp sinh viên nắm vững kiến thức chuyên môn mà còn chuẩn bị tốt hơn cho sự nghiệp tương lai trong lĩnh vực pháp luật.

Để hiểu sâu hơn về các nghiên cứu liên quan đến nhận thức và kỹ năng của sinh viên, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ luật học nhận thức của sinh viên chuyên ngành tiếng anh về những trở ngại khi thuyết trình trong giờ học tiếng anh pháp luật tại đại học luật hà nội, nghiên cứu này cung cấp góc nhìn chi tiết về thách thức trong quá trình học tập. Ngoài ra, Developing discussion skills for efl second year students luận án thạc sĩ cũng là một tài liệu hữu ích để phát triển kỹ năng thảo luận, một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao nhận thức. Cuối cùng, Trắc nghiệm logic học đại cương đại học trà vinh giúp củng cố tư duy logic, một kỹ năng không thể thiếu trong đào tạo luật.

Những tài liệu này mở rộng kiến thức và cung cấp thêm góc nhìn đa chiều, giúp bạn hiểu rõ hơn về chủ đề này.