chương I và chương II hóa học lớp 11 nâng cao, tại địa bàn Mê Linh Hà Nội. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Trí thông minh 1. Khái niệm trí thông minh - Theo từ điển Tiếng Việt có hai khái niệm về trí thông minh đó là: + Trí thông minh chỉ khả năng sáng trí, mau hiểu, mau biết và mau nhớ.
+ Trí thông minh là khả năng nhanh trí có tài ứng xử, giải quyết các tình huống cụ thể. - Theo tác giả Hoàng Phê, “ Thông minh là có trí lực tốt, hiểu nhanh và tiếp thu nhanh, là nhanh trí và khôn khéo, tài tình trong các ứng đáp, đối phó” ( 11). - Các nhà tâm lí học có các quan điểm khác nhau và giải thích khác nhau về trí thông minh nhưng đều có chung một nhận định: “ Trí thông minh không phải là một năng lực đơn độc, nó là sức mạnh tổng hợp của nhiều loại năng lực ”. Theo điều tra tâm lí và quan điểm của các nhà tâm lí học Trung Quốc, trí thông minh bao gồm khả năng quan sát, khả năng trí nhớ, sức suy nghĩ, óc tưởng tượng, kĩ năng thực hành và sáng tạo.
Trí thông minh chính là sự phối hợp tốt các năng lực đó để làm thành một kết cấu hữu hiệu( 20) Có lần, nhà vật lí nổi tiếng Thomas Edison muốn tính dung tích một bóng đèn, ông giao nhiệm vụ đó cho trợ lí Chapton. Hơn một tiếng đồng hồ, Chapton loay hoay mãi với các công thức dày đặc mà vẫn chưa ra. Edison nói: “ có gì phức tạp lắm đâu!”.Ông mang chiếc bóng đèn ra vòi, hứng đầy nước và nói với Chapton: “ Anh đổ vào ống xem dung tích là bao nhiêu, đó là dung tích của bóng đèn”. Như vậy, trí thông minh không chỉ thể hiện qua nhận thức mà còn thể hiện qua hành động (công việc thực hiện cụ thể).
Qua đó chủ thể của quá trình nhận thức bộc lộ được cách giải quyết vấn đề hiệu quả, độc đáo, ít tốn công sức nhất (20) - Theo tác giả Lí Minh Tiên thì định nghĩa về trí thông minh được nhiều nhà nghiên cứu đề nghị là coi trí thông minh như một nhóm khả năng được biểu hiện và đánh giá qua điểm số mà những trắc nghiệm trí tuệ đo được. Định nghĩa là thuận lợi cho việc nghiên cứu có liên quan đến một thuật 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngữ rất trừu tượng là : “ trí thông minh mở ra hướng đo đạc, lượng hóa các khả năng trí tuệ. Theo tác giả Nguyễn xuân Trường, “ Thông minh là nhanh nhạy nhận ra mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng và biết vận dụng mối quan hệ đó theo hướng có lợi nhất để đạt mục tiêu”( 6, tr. Các học thuyết phân loại trí thông minh * Thuyết đa thông minh (1983), Hawrd Gardner đã cho rằng: “Trí thông minh là khả năng tư duy logic, khả năng tư duy ngôn ngữ và văn học, Trí thông minh là khả năng tư duy âm nhạc, khả năng tư duy không gian và hình ảnh.
Trí thông minh là khả năng giao tiếp, khả năng tự nhận thức, khả năng vận động cơ thể. Hiện nay đã bổ sung một loại đó là: “Trí thông minh là khả năng hướng tới thiên nhiên”. * Thuyết chân kiềng ra đời năm 1985 do Robert Sterberg cho rằng có ba loại trí thông minh: Trí thông minh phân tích, trí thông minh sáng tạo và trí thông minh thực tế. * Thuyết trí thông minh của J.
Ca Hell năm 1966 xác định có hai loại trí thông minh dạng lỏng và trí thông minh dạng kết tinh. Trong các cách phân loại trên thì cách phân loại của Hawrd Gardner là phù hợp với quá trình dạy học hơn cả. Các yếu tố ảnh hưởng tới trí thông minh - Ảnh hưởng của môi trường (gia đình, xã hội, địa lí…) - Ảnh hưởng của giáo dục, yếu tố di truyền không sẵn có mà chỉ là khả năng tiềm tàng, để biến nó thành hiện thực thì phải có điều kiện thích hợp thì trí thông minh mới phát triển được. Những biểu hiện của trí thông minh - Có kiến thức cơ bản, vững vàng, sâu sắc.
- Có năng lực tư duy, có khả năng quan sát, nhận thức, nhận xét các hiện tượng tự nhiên. - Biết vận dụng linh hoạt, mềm dẻo, sáng tạo những kiến thức cơ bản và nhận thức đó vào tình huống mới, không theo lối mòn. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com * Trí thông minh được biểu hiện qua một số năng lực sau: - Năng lực tiếp thu kiến thức (nhận thức nhanh, rõ ràng, thấu đáo kiến thức mới, hào hứng trong các giờ học, nhất là giờ bài tập, có ý thức bổ sung hoàn thiện tri thức đã lĩnh hội). - Năng lực suy luận logic (biết phân tích sự vật, hiện tượng qua các dấu hiệu đặc trưng của chúng, biết thay đổi góc nhìn, xem xét một sự vật hiện tượng, biết tìm con đường ngắn nhất để đi đến kết luận …).
- Năng lực diễn đạt (chính xác, thu gọn, trật tự hóa các vấn đề, sử dụng thành thạo các kĩ năng …). - Năng lực lao động sáng tạo. - Năng lực kiểm chứng. - Năng lực thực hành.
Hoạt động nhận thức và phát triển tư duy cho học sinh trong quá trình dạy học - Khái niệm nhận thức: + Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đới sống tâm lí con người (nhận thức, tình cảm, ý chí). Nó là tiền đề của hai mặt kia và đồng thời có quan hệ chặt chẽ với chúng và với các hiện tượng tâm lí khác. + Hoạt động nhận thức gồm hai giai đoạn là: Nhận thức cảm tính (cảm giác, tri giác) và nhận thức lí tính (tư duy và tưởng tượng). - Những phẩm chất của tư duy: Tính định hướng, bề rộng, độ sâu, linh hoạt, mềm dẻo, độc lập, khái quát, nhất quán, phê phán, sáng tạo, … - Những hình thức cơ bản của tư duy: Khái niệm, phán đoán, suy lý.
- Các thao tác cơ bản của tư duy: Phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa. - Đánh giá sự phát triển của tư duy: Thang bậc nhận thức theo Bloom gồm 6 bậc nhận thức từ thấp đến cao: Nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đánh giá Sáng tạo Phân tích Vận dụng Hiểu Biết Mô hình thang bậc nhận thức theo Bloom 1. Đo trí thông minh của học sinh Phương pháp đo trí thông minh hay còn gọi là xác định chỉ số thông minh IQ.
Phương pháp này được đề xuất vào năm 1905 bởi các nhà tâm lí học người pháp là Alfred Binet. Hiện nay người ta dùng các phương pháp để định lượng các chức năng trí tuệ. Tất cả các phương pháp đó đều dùng trắc nghiệm bao gồm các lần thử qua khẩu vấn và các lần thử theo hiệu năng để đánh giá mức độ thông minh cũng như kết quả học tập. Các nhà khoa học nghĩ ra những bộ đề IQ.
Có những bộ gồm 20 bài, có bộ 30 bài. Làm đúng nhiều thì được nhiều điểm. Làm nhanh nhiều cũng được nhiều điểm. Số điểm thể hiện mức độ thông minh của mỗi người bằng số, gọi là chỉ số thông minh.
Chỉ số IQ trung bình là 100. IQ từ 85 đến 114 được xếp vào loại trung bình. IQ từ 115 đến 124: trên trung bình IQ từ 125 đến 134:giỏi IQ từ 135 đến 144: rất giỏi, siêu IQ từ 145 đến 154: tài năng lỗi lạc 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com IQ từ 155 đến 164: thiên tài IQ từ 165 đến 200: thiên tài hiếm có IQ từ 180 đến 200: thiên tài siêu việt IQ trên 200: trên đời không có ai có thể sánh được, IQ không thể đo được. Người ta thử đo IQ cho học sinh các bậc khác nhau.
Trong khi ở các lớp đưới, IQ của học sinh thường ở mức 85~114, thì ở cuối bậc trung học phổ thông thường đạt trên mức 115~124. Một số mức đo chỉ số thông minh của các “ông cử” ( người có bằng cử nhân) thấy IQ thường đạt ở mức “giỏi”( IQ =125~134). Giáo sư, tiến sĩ thường ở mức cao hơn; còn những người đạt giải Noben thường ở mức IQ=155~164(22) 1. Phát huy trí thông minh cho học sinh Trong các tài liệu hiện nay, người ta rất quan tâm và đề cập rất nhiều về phương pháp phát huy trí thông minh.
Cụ thể với trẻ em, các nhà tâm lí học đưa ra các tranh ảnh, mô hình, game, chuyện kể sinh động kích thích vào các giác quan, ngôn ngữ làm cho trẻ có cơ hội phát huy khả năng quan sát, nhận xét, chọn lựa… Với học sinh THPT thì mức độ có cao hơn, phát huy bằng các câu hỏi có khả năng logic cao, các ô chữ, hình vẽ IQ, trắc nghiệm IQ đòi hỏi kiến thức sâu trắc và sự vận dụng linh hoạt, hiệu quả. Môn Hóa học là một môn khoa học tự nhiên chứa đựng nhiều vấn đề khoa học hay và khó, đòi hỏi người nghiên cứu nó phải là người thông minh, có tư duy sắc bén. Hóa học không đơn thuần nghiên cứu lí thuyết mà luôn gắn liền thực tiễn, được chứng minh bằng thực nghiệm. Do vậy, môn Hóa học góp phần bồi dưỡng cho người học năng lực tư duy độc lập, sáng tạo ngay trong thực tế.
Nếu người học được được tiếp nhận một phương pháp học tập hiện đại, coi trọng sự phát triển của người học thì thông qua môn Hóa học, người học được bồi dưỡng, phát triển năng lực tư duy, phát huy trí thông minh, dần dần năng lực nhận thức được nâng cao, sự phối hợp các năng lực của bản thân ngày càng linh hoạt, có nghĩa là phát triển được trí thông minh. Để làm được điều này, bản thân người giáo viên phải soạn được một hệ thống bài tập chứa 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đựng yếu tố tư duy chứ không phải tái hiện kiến thức thuần túy. Mỗi bài tập đưa ra đòi hỏi học sinh phải vận dụng các thao tác tư duy để giải quyết, đặc biệt tình huống” có vấn đề” có ý nghĩa quan trọng. Bên cạnh hệ thống bài tập có chất lượng không thể thiếu phương pháp giải hiệu quả.
Muốn học sinh có tư duy phát triển thì ngay từ đầu phải xây dựng, cung cấp cho các em các công cụ giải toán hóa học cơ bản mà từ đó các em có thể vận dụng trong từng trường hợp cụ thể khác nhau. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay Đổi mới PPDH là nhiệm vụ cấp thiết đang đặt ra cho ngành giáo dục hiện nay.