đặt vấn đề cho đề tài bài học và cố gắng đảm bảo sự làm việc tích cực của HS toàn lớp trong suốt cả giờ học, đó là biện pháp cơ bản của GV thường xuyên áp dụng được thể hiện qua việc phân tích và khái quát kinh nghiệm đã tích luỹ được, cho phép định ra những phương pháp hợp lý giải quyết vấn đề. TÍCH CỰC HÓA HĐNT CỦA HỌC SINH TRONG QUÁ TRÌNH TRUYỀN THỤ KIẾN THỨC MỚI: Phần căn bản của đa số các bài học vật lý là truyền thụ kiến thức mới cho HS. Khi trình bày tài liệu mới, không kể là việc đó được tiến hành dưới hình 17 thức như thế nào, HS cũng không thể là người nghe thụ động. Nếu trong một thời gian dài gây cho họ một tác động sư phạm khiến cho họ phải tích cực tư duy thì điều đó sẽ dẫn tới sự hình thành được những phẩm chất vững chắc tương ứng với hoạt động trí tuệ.
Tâm lý học hiện đại đã nêu rõ sự lĩnh hội kiến thức, tính tích cực của tư duy được kích thích khi xuất hiện "tình huống có vấn đề" Ian Amôt Komenxki nêu rõ "GV trước khi bắt đầu mỗi công việc thì hoặc là làm cho HS chú ý tới bằng cách giới thiệu với họ tài liệu, đề ra hoặc là động viên họ bằng những câu hỏi về điều họ đã học qua để dẫn dắt tới tài liệu hiện thời hoặc là làm sao cho HS ý thức được sự kém cỏi của họ mà hào hứng càng nhiều càng tốt đối với việc tiếp thu sự giải thích đối tượng".{20} Như vậy HS ý thức được tầm quan trọng của đề tài, bài học mà lĩnh hội kiến thức không những trên cơ sở những lời giải thích của GV mà còn trực tiếp hoạt động của bản thân HS, nhất là khi GV tổ chức một cách đặc biệt để đạt được việc đó. Khi đó HS lĩnh hội kiến thức vật lý một cách tích cực, có ý thức và vững chắc, khi củng cố kiến thức GV đặt ra những câu hỏi đòi hỏi HS không phải chỉ đơn giản tái hiện những điều mà họ đã nghe GV nói hoặc đã đọc trong SGK mà đòi hỏi họ phải gia công sáng tạo dù là nhỏ nhất. Chẳng hạn như trong phần quang hình học các định luật phần xạ và khúc xạ được nghiên cứu trên cơ sở thực nghiệm, còn những vấn đề khác như đường đi của tia sáng qua lăng kính, sự phản xạ toàn phần, gương và thấu kính thì HS tự lực phân tích, dĩ nhiên là dưới sự chỉ đạo của GV bằng cách áp dụng những kiến thức mà họ đã nắm vững. Việc tích cực hóa học tập của HS khi trình bày tài liệu mới đã và đang xúc tiến rất mạnh.
Việc sử dụng thí nghiệm, thí nghiệm ở lớp liên hệ hữu cơ với các bài học. Thí nghiệm được đề ra để luận chứng cho một vấn đề đã đặt ra, để đi tìm câu trả lời cho vấn đề đó hoặc để kiểm chứng những qui luật vật lý nào đó. Trong mọi trường hợp việc tiến hành thí nghiệm phải có lý lẽ xác đáng và mục đích của nó phải được sáng tỏ rõ ràng. Thí nghiệm xét toàn bộ và những giai 18 đoạn riêng biệt của nó được hoạch định với sự tham gia tích cực của HS, GV nhắc lại cần phải làm cái gì và làm như thế nào và làm để làm gì, chọn lọc một cách có căn cứ những dụng cụ để làm thí nghiệm, phán đoán kết quả của mỗi thao tác trung gian và kết quả cuối cùng.
Công tác thực nghiệm cũng có một ý nghĩa lớn lao đối với việc lĩnh hội kiến thức của HS một cách tự lực khi GV trình bày tài liệu mới. Chẳng hạn như khi quan sát một hiện tượng vật lý mà qui luật của chúng đang được nghiên cứu trong bài học đã cho, những thí nghiệm thực tập nhỏ (5-10 phát) được thảo luận trong giờ học cũng để dẫn dắt HS tới những kết luận cần thiết trong cuộc hỏi đáp gợi mở việc giải những bài toàn thực nghiệm, toán đồ thị, toán đố vv.Ví dụ: Khi dạy nội dung bài Kính Lúp, GV nêu vấn đề: Muốn nhìn rõ chi tiết của các vật nhỏ theo điều kiện nhìn rõ của mắt, với những dụng cụ như gương cầu lồi, gương cầu lõm, thấu kính hội tụ, thấu kính phân kỳ thì dụng cụ nào đáp ứng được yêu cầu nêu trên? Khi đã có các đụng cụ trong tay, tìm dụng cụ thích hợp cho yêu cầu được nêu, buộc HS tham gia một cách tích cực và chú ý đặc biệt vào cuộc hỏi đáp trong đó GV phân tích hiện tượng mới (phải là thấu kính hội tụ có tiêu cự ngắn) đối với HS. Những kiến thức mới đối với HS được trình bày dưới hình thức nêu và giải quyết vấn đề thì được HS tiếp thu một cách tích cực nhất, sự phát triển tư duy của HS phụ thuộc trực tiếp vào đặc điểm các câu hỏi của GV khi tổ chức việc hỏi đáp đó. TÍCH CỰC HÓA HĐNT CỦA HS KHI HOÀN THÀNH CÁC CÔNG TÁC THỰC HÀNH VÀ KHI LUYỆN TẬP: Có hai hình thức công tác tự lực của HS đã thâm nhập vững chắc vào thực tiễn công tác của GV vật lý: Thí nghiệm thực tập (đồng loạt và thực hành vật lý) và giải toán vật lý.
Trong thực tế hiện nay, ở trường THPT thí nghiệm thực tập chỉ chiếm chưa đầy 11% toàn bộ thời gian dành cho việc học tập vật lý mặc dù không ai phủ nhận vai trò của nó, nó có một ý nghĩa to lớn trong việc hình thành kiến thức mới và rèn luyện tính tự lực và phát triển kỹ năng, kỹ xảo. Ở hầu hết các nước trên thế giới kể cả những nước đang phát triển tỉ lệ này đều vượt trên 19 20%, nhiều nước qui định chặt chẽ là 50% số giờ vật lý phải được giảng dạy trong phòng thí nghiệm vật lý nghĩa là thông qua các thí nghiệm thực hành. {28} Còn việc giải toán ở ta chiếm một vị trí khá lớn trong giảng dạy nhưng đáng tiếc là các hình thức tổ chức và phương pháp thực hiện giải toán như hiện nay chưa phải bao giờ cũng đảm bảo được sự tự lực và sự tích cực của học sinh một cách đầy đủ. Hơn nữa nội dung những bài toán vật lý thường xa rời với thực tiễn, làm cho việc giải toán vật lý không đạt được mục tiêu giúp HS nắm vững những vận dụng vào thực tiễn đời sống, lao động, kỹ thuật.
Theo kinh nghiệm của một số GV tiên tiến, trong công tác thực hành và luyện tập cố gắng đạt tới chỗ sao cho tính tự lực của học sinh càng đa dạng càng tốt. Chúng ta có thể phân loại các dạng bài tập sau: - Các bài tập trong giờ học (bao gồm bài tập định tính và bài tập định lượng): Cần phải chỉ cho HS phân tích nội dung của các bài toán và phân tích phương pháp giải chúng, tuy nhiên cần phải khá nhanh chuyển từ phân tích bài toán sang việc HS tự lực giải toán ở lớp (thông thường GV phân tích nêu số liệu, mô hình đề nghị HS tự lực giải bài toán dưới sự giúp đỡ của GV nếu cần). - Các bài toán làm thực nghiệm và thí nghiệm thực tập: Đây là dạng toán mà HS đặc biệt hứng thứ và tích cực suy nghĩ rất nhiều, dạng bài tập này có thể nêu bật lên tính chất nghiên cứu tới mức độ nhất định và đòi hỏi HS tự lực một cách tối đa. Khác với các bài toán thực nghiệm mà cả lớp giải đồng thời, các bài tập thực nghiệm GV giao cho từng nhóm HS có thể tính toán, chọn dụng cụ lắp đặt mô hình theo yêu cầu của nội dung bài học.Điều đáng lưu ý đối với GV bài làm có thể có mức độ phức tạp khác nhau nhưng nhất thiết phải vừa sức HS.
- Đối với thí nghiệm thực tập: So với yêu cầu của bài học, HS tự lực suy nghĩ kế hoạch hoàn thành thí nghiệm, xác định trình tự đo lường, chọn lọc dụng cụ và vật liệu cần thiết, vẽ sơ đồ thiết bị, mô hình thực tập vv. Sau khi lập kế hoạch như thế HS bắt tay vào hoàn thành kế hoạch một cách có ý thức đầy đủ và hoàn toàn tìm hiểu mọi chi tiết của công việc đề ra trước mắt. Biện pháp này 20 có căn cứ xác đáng rất cao so với cách hoàn thành thí nghiệm theo những lời chỉ dẫn có sẵn. SỰ CẦN THIẾT PHẢI TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH {8}{23}{24}{25} Tâm lý học cho rằng nhân cách của HS được hình thành thông qua các hoạt động chủ động, thông qua các hành động có ý thức.
Vì vậy lựa chọn cách tổ chức HĐNT học tập cho HS là hình thức học tập cho phép đạt đến nhiều mục đích tích cực. Nhờ HĐNT được tổ chức một cách khoa học và phù hợp, HS có thể: - Phát huy tính tích cực, chủ động, độc lập, sáng tạo, khơi dậy sự hứng thú, lòng say mê và nhu cầu nhận thức, nhu cầu sáng tạo. Đó là những phẩm chất tâm lý rất tốt đẹp, rất quan trọng của người lao động sáng tạo. - Chủ động chiếm lĩnh tri thức bằng chính HĐNT độc lập trên cơ sở triệt để sử dụng kiến thức, kỹ năng, phương pháp nhận thức đã có.
Nhờ đó kiến thức đã được nâng lên trình độ mới: trình độ thao tác, kiến thức mới được tiếp nhận một cách có chọn lọc, phê phán và đánh giá trở nên bền vững hơn, tinh giản hơn và tính công cụ cao hơn. - Từng bước trang bị và rèn luyện kỹ năng nhận thức, phương pháp nhận thức đó chính là công cụ cần thiết để hoạt động nhận thức độc lập. - Nhờ từng bước được đặt vào HĐNT mang tính khoa học mà HS nắm được cách thức HĐNT hướng đến độc lập tổ chức HĐNT cá nhân. Chính vì những ý nghĩa tích cực đó mà tổ chức HĐNT trở thành định hướng rõ nét trong cải cách giáo dục hiện nay, nó trở thành định hướng chung cho việc giảng dạy tất cả các môn học trong đó có vật lý.
Trong tổ chức HĐNT có ý nghĩa tích cực nhất là phương pháp làm sao cho người học phải thật sự trở thành chủ thể của hoạt động học - được cuốn hút vào những hoạt động học tập do GV tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó được tự lực khám phá những cái mình chưa biết chứ không phải thụ động tiếp thu những tri 21 thức đã được sắp đặt sẵn.{8} Tính tích cực nhận thức là một trong những yêu cầu để HĐNT thành công đồng thời đó cũng là một trong những biểu hiện của năng lực nhận thức. Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học.