Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC VẬT LÝ VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA PHẦN MỀM DẠY HỌC VÀ BẢN ĐỒ TƯ DUY 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Tính tích cực nhận thức 1. Tính tích cực nhận thức của học sinh.
Đối với HS, tính TCNT trong hoạt động học tập được thể hiện đầu tiên và rõ nhất ở quá trình của trí nhớ. Trí nhớ là một chức năng vô cùng quan trọng của não, đó là biểu hiện của quá trình tích cực tâm lí và là một thành tố cần thiết trong quá trình nhận thức của HS. Tuy nhiên, với những yêu cầu ngày càng cao đối với người học thì nhớ tốt thôi chưa đủ, người học phải mở rộng kiến thức, làm việc một cách tích cực về trí tuệ. Vì vậy mà HS cần phải có sự định hướng, sự nhận thức trong tư duy cũng như hiểu biết để làm chủ, chiếm lĩnh kiến thức.
Theo các nhà tâm lý học, tuổi thiếu niên (lứa tuổi của học sinh THCS) được xác đình từ 12, 13 đến 15, 16 tuổi. Đó là lứa tuổi chuyển biến đột ngột, độc đáo từ tính trạng trẻ con sang tính trạng người lớn. Các em làm việc rất hăng say, nhiệt tình nhưng sức làm việc chưa bền, chưa dẻo dai. Đối với lứa tuổi này “hoạt động nhận thức chủ yếu của các em là hoạt động học tập.
Tính TCNT trong hoạt động học tập trước hết liên quan đến động cơ học tập. Động cơ học tập của HS được biểu hiện bằng sự khao khát hiểu biết, chiếm lĩnh tri thức và hoàn thiện nhân cách của bản thân. Động cơ học tập là yếu tố quan trọng quyết định đến toàn bộ hoạt động học cũng như kết quả học tập của HS. Vì vậy, định hướng cho HS tạo động cơ học tập đúng đắn là một việc làm hết sức quan trọng, làm thúc đẩy tính TCNT trong học tập của các em.
Hoạt động học của HS có cấu trúc giống như hoạt động lao động sản xuất nói chung bao gồm các thành tố có quan hệ tác động qua lại lần nhau được biểu diễn bằng sơ đồ dưới đây: Động cơ Hoạt động Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên http://lrc.vn Mục đích Hành động Sơ đồ 1. Cấu trúc tâm lý của hoạt động [17] Động cơ nào thì quy định sự hình thành và diễn biến của hoạt động đó, muốn tạo được động cơ thì phải thực hiện lần lượt những hành động nào với mục đích ra sao? Mỗi hành động lại được thực hiện bằng những thao tác đã được sắp xếp theo một trình tự xác định, ứng với mỗi thao tác phải sử dụng phương tiện và công cụ thích hợp. Vật lý là một môn khoa học thực nghiệm, quá trình nghiên cứu thường được tiến hành bằng quan sát và thí nghiệm. Vì vậy, phương pháp nghiên cứu vật lý cũng như dạy học vật lý đều phải trải qua các giai đoạn: quan sát, thí nghiệm để phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá, trừu tượng hoá từ đó hình thành các khái niệm, thuyết vật lí.
rồi từ lý thuyết mà ta có thể vận dụng nghiên cứu các sự vật, hiện tượng ở phạm vi rộng hơn. Căn cứ vào đó GV có thể định hướng, tạo động cơ học tập đúng đắn cho HS, giúp HS nhận thức tích cực hơn và tạo điều kiện để tư duy của HS phát triển. Tính tích cực (TTC) Về thuật ngữ, tính tích cực tiếng Latinh là Activus, tiếng Anh là Activity, dùng để chỉ hai ý: - Tính tích cực gắn bó với hoạt động, là trạng thái hoạt động. - Tính tích cực bao hàm tính chủ động, tính chủ định có ý thức của chủ thể.
Tính tích cực (TTC) là một trong những phẩm chất vốn có của con người Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên http://lrc.vn trong đời sống xã hội. Theo nghĩa thông thường TTC được hiểu là một thái độ, hăng hái nhiệt tình với công việc. Về khái niệm TTC có nhiều quan điểm khác nhau, tuy nhiên ta có thể hiểu về TTC như sau: Ở nước ta, nhiều nhà nghiên cứu cúng đưa ra những quan điểm về TTC. Giáo sư Trần Bá Hoành đã viết: “TTC là phẩm chất vốn có của con trong đời sống xã hội.
Khác với động vật, con người không chỉ tiêu thụ những gì sẵn có trong thiên nhiên mà còn chủ động sản xuất ra những của cải vật chất cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội, sáng tạo nền văn hóa ở mỗi thời đại, chủ động cải biến môi trường tự nhiên, cải tạo xã hội” [11].TS Vũ Hồng Tiến quan niệm: “TTC là phẩm chất vốn có của con người, bởi vì để tồn tại và phát triển con người chủ động, tích cực cải biến môi trường tự nhiên, cải tạo xã hội. Vì vậy, hình thành và phát triển tính tích cực là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục”. Để tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội con người không ngừng tìm tòi nghiên cứu những sự vật, hiện tượng mới lạ xung quanh, tạo cho mình một nền tảng kiến thức, khả năng ứng biến, hòa nhập với môi trường xung quanh. Như vậy TTC được hiểu là một thuộc tính vốn có của con người, biểu thị thái độ hăng hái, nhiệt tình với công việc, với vấn đề cần giải quyết, sự nỗ lực tìm tòi, học hỏi để tìm ra hướng giải quyết cho vấn đề hay thích nghi với cái mới.
Sự nỗ lực ấy diễn ra trên nhiều mặt: Tâm lý: Tăng cường các hoạt động về cảm giác, tri giác, tư duy và tưởng tượng… Xã hội: Tăng cường mối liên hệ với môi trường bên ngoài… Sinh lý: Đòi hỏi hao phí nhiều năng lượng cơ bắp. Theo nghiên cứu TTC chịu ảnh hưởng các nhân tố như: Nhu cầu: tích cực nhằm thỏa mãn những nhu cầu nào đó; Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên http://lrc.vn Động cơ: tích cực vì hướng tới những động cơ nhất định; Hứng thú: do bị lôi cuốn bởi những say mê vì muốn biến đổi, cải tạo một phạm trù xã hội nào đó; Ngoài ra “Tích cực nhận thức cũng có mối quan hệ mật thiết với tính tự lực, với xúc cảm và ý chí”. Tính tích cực nhận thức Tính TCNT được xem là một dạng của hoạt động hay là trạng thái của hoạt động dưới góc độ tâm lí. Tính tích cực nhận thức (TCNT) là tính tích cực xét trong điều kiện, phạm vi của quá trình dạy học, chủ yếu được áp dụng trong quá trình nhận thức của HS.
Samôva tính TCNT được biểu hiện ở tính định hướng, tính bền vững của hứng thú nhận thức, học sinh cố gắng tìm tòi phương thức để nắm vững kiến thức, để hành động hiệu quả, tập rung ý chí để đạt được mục đích học tập. Các dấu hiệu đặc trưng tính TCNT của HS là: - Sự nỗ lực về trí tuệ, thao tác tư duy, - Các hành động thể hiện sự quan tâm đến môn học, - Việc tìm nguyên nhân để thực hiện các thao tác chọn đối tượng nhận thức. - Đề ra được mục đích, nhiệm vụ cần giải quyết nhằm cải tạo nó. Các mức độ về tính tích cực nhận thức: Tính TCNT được phân chia ra ba mức độ: - Tính tích cực tái hiện - Tính tích cực sử dụng - Tính tích cực sáng tạo [25].
Các biểu hiện của tính tích cực nhận thức Trong dạy và học vật lý, HS chỉ có thể chiếm lĩnh được kiến thức và phát triển được tư duy của mình khi họ tích cực hoạt động nhận thức. Thông qua hoạt động nhận thức, HS chiếm lĩnh được kiến thức và năng lực tư duy đồng thời được phát triển. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên http://lrc.vn Theo Nguyễn Thanh Hải “hoạt động nhận thức thức vật lý là khá phức tạp.” Tuy nhiên có thể kể đến các hành động chính của hoạt động nhận thức vật lý sau: - Quan sát được các hiện tượng tự nhiên, nhận biết đặc tính bên ngoài của sự vật, hiện tượng. - Tác động vào tự nhiên, làm bộc lộ những mối quan hệ, những thuộc tính của sự vật và hiện tượng.
Xác định mối quan hệ nhân quả giữa các hiện tượng. - Xác định mối quan hệ hàm số giữa các đại lượng. - Xây dựng những giả thiết hay mô hình để lý giải nguyên nhân của hiện tượng quan sát được. Từ giả thiết, mô hình suy ra những hệ quả.
- Xây dựng các phương án thí nghiệm để kiểm tra các hệ quả. - Đánh giá kết quả thu được từ thí nghiệm. - Khái quát hóa kết quả, rút ra tính chất, quy luật hình thành các khái niệm, định luật và thuyết vật lý. - Vận dụng kiến thức khái quát vào thực tiễn.
Thích thú, chủ động tiếp xúc với đối tượng Học sinh tự lực đặt câu hỏi và có những thắc mắc đối với GV. Những câu hỏi dạng: - Đây là cái gì? - Dùng để làm gì? - Tại sao? Như thế nào? - Do đâu mà có?. Những thắc mắc các em đưa ra biểu hiện sự tích cực tìm kiếm, lòng ham hiểu biết, trí tò mò đang khuấy động các em. Việc đặt câu hỏi của các em thể hiện lòng mong muốn hiểu biết nhiều hơn, sâu hơn về những đối tượng mà các em đang tiếp xúc.
Học tập thụ động, không hứng thú sẽ không có câu hỏi và cũng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên http://lrc.vn sẽ không có phản ứng nếu câu hỏi không được trả lời. Chú ý quan sát và lắng nghe, theo dõi những gì thầy cô làm. Thường xuyên giơ tay phát biểu, xây dựng bài, đóng góp ý kiến cho câu trả lời của bạn, đặt câu hỏi cho các bạn trả lời và tham gia vào các hoạt động học tập một cách tích cực cũng là những biểu hiện của sự hứng thú với môn học. Dựa trên sự quan sát, nhìn nhận, theo dõi quá trình làm việc của học sinh giáo viên có thể đánh giá được sự hứng thú với hoạt động học không, có hài lòng với kết quả học tập không thông qua biểu cảm thông qua biểu cảm (niềm vui, nụ cười, sự hài lòng, cử chỉ, hành động …) và có các điều chỉnh cho phù hợp.
Dấu hiệu bên trong có thể cụ thể hóa qua một số câu hỏi: - Học sinh có chú ý, tập trung tư tưởng học tập không? - Có hăng hái tham gia vào các hoạt động học tập không? (Thể hiện ở chỗ giơ tay phát biểu ý kiến, ghi chép…). - Có làm các bài khác, tìm hiểu các tư liệu khác ngoài các bài đã cho hay không?