CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH THÔNG QUA HỆ THỐNG CÂU HỎI TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ 1. Giới thiệu vài nét về quan điểm giáo dục của Bloom Benjamin Bloom sinh năm 1913 tại Pennsylvania và được coi là một trong những nhà giáo dục hàng đầu của Mỹ. Năm 1942, ông tốt nghiệp Tiến sĩ về Giáo dục tại trường Đại học Chicago. Trước khi tốt nghiệp Tiến sĩ, Bloom đã làm việc cho Ủy ban Khảo thí của Đại học Chicago và sau khi tốt nghiệp Tiến sĩ ông giữ chức vụ trưởng ban này cho đến năm 1953.
Ông mất năm 1999, ông đã dành hết cuộc đời cho nền giáo dục và có ảnh hưởng sâu đậm không chỉ với nền giáo dục của Mỹ mà còn trên cả thế giới. Ngoài những lý thuyết và nghiên cứu về giáo dục, có lẽ Bloom được hậu thế ghi nhớ nhiều nhất là ở công trình ông nghiên cứu và thiết lập Bảng phân loại các tầng lớp nhận thức (năm 1956). Theo ông, trình độ nhận thức của con người được sắp xếp từ mức độ đơn giản nhất, gợi lại kiến thức, đến mức độ phức tạp nhất, đánh giá giá trị và tính hữu ích của một vấn đề. Bảng phân loại Bloom (Bloom’s Taxonomy) bao gồm 6 cấp độ từ thấp đến cao như sau: [41], [42] Bảng 1.
Phân loại tư duy của Bloom (năm 1956) Năng lực Yêu cầu Từ khóa Biết Mô tả, kể lại, đọc thuộc Nhớ lại thông tin (Knowledge) lòng, miêu tả, nhận biết. Tóm tắt nội dung, giải thích, Hiểu Hiểu nghĩa, diễn giải khái thuyết trình, thảo luận, nhận (Comprehension) niệm biết các yếu tố, biến đổi, lấy ví dụ. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ứng dụng, chứng minh, Sử dụng thông tin hay Vận dụng minh họa, giải quyết vấn đề, khái niệm trong tình (Application) tính toán, sử dụng, thí huống mới. Chia nhỏ khái niệm thành Phân loại, phân biệt, lựa Phân tích những thành phần nhỏ chọn, so sánh, đối chiếu, (Analysis) hơn để hiểu đầy đủ hơn.
diễn dịch, khảo sát, phân tách. Ghép các thành phần với Thiết kế, hệ thống hóa, cấu Tổng hợp nhau để tạo nên nội dung trúc lại, khái quát hóa. Đưa ra những nhận xét, Đánh giá, phê bình, phán Đánh giá đánh giá, phê bình, những đoán, chứng minh, tranh (Evaluation) đề nghị, tiên đoán. luận, biện hộ.
Vào giữa thập niên 1990, giáo sư Lorin Anderson, một học trò của Bloom, cùng với một số đồng nghiệp đã đưa ra Bảng phân loại mới, còn được gọi là Thang Bloom Tu chính (Bloom’s Revised Taxonomy) [41] với một số điều chỉnh so với Thang Bloom (năm 1956) : cấp độ tư duy thấp nhất là Nhớ thay vì Biết, cấp Tổng hợp được bỏ đi và đưa thêm Sáng tạo vào mức cao nhất, các danh động từ được thay cho các danh từ. Sự điều chỉnh này sau đó đã nhận được sự ủng hộ bởi đa số các cơ sở giáo dục, nhất là các trường đại học – nơi đề cao các hoạt động giúp phát triển năng lực sáng tạo của người học. Bảng sau đây cung cấp nội dung giải thích ngắn gọn các cấp bậc nhận thức được phân thành cấp độ như sau: 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Phân loại tư duy Thang Bloom Tu chính Năng lực Yêu cầu Từ khóa Ghi nhớ các sự kiện, thuật Nhắc lại, mô tả, liệt kê, trình Nhớ ngữ và các nguyên lý đã bày, chọn lựa, gọi tên, giới (Remembering) được học thiệu, chỉ ra.
Diễn giải ý nghĩa, viết ra, Giải thích, tóm tắt, phân Hiểu trình bày thông tin, minh biệt, mở rộng, khái quát hóa, (Understanding) họa, phân loại, mô tả tóm lấy ví dụ, so sánh. tắt kiến thức đã biết. Sử dụng kiến thức đã biết Vận dụng, áp dụng, tính Áp dụng vận dụng vào tình huống toán, chứng minh, giải thích, (Applying) mới ở dạng tương tự xây dựng, lập kế hoạch. những tình huống đã biết.
Tách từ tổng thể thành bộ Phân tích, lý giải, so sánh, Phân tích phận, chỉ ra quan hệ giữa lập biểu đồ, phân biệt, minh (Analysing) các bộ phận đó với nhau họa, xây dựng mối liên hệ, theo cấu trúc của chúng. hệ thống hóa, lập kế hoạch. So sánh, phê phán, chọn Đánh giá, cho ý kiến, bình Đánh giá lọc và đánh giá trên cơ sở luận, kết luận, định lượng, (Evaluating) các tiêu chí xác định. Sáng tạo ra những giá trị Thiết lập, tổng hợp, xây Sáng tạo mới trên cơ sở các kiến dựng, thiết kế, sáng tác, đề (Creating) thức đã tiếp thu được.
Xây dựng hệ thống câu hỏi trong dạy học chương “Chất khí” Vật lý 10 trên cơ sở lý thuyết về thang bậc năng lực nhận thức của Bloom có thể sẽ làm đơn giản hóa vấn đề cần dạy, các cấp độ câu hỏi từ dễ đến khó dần tương ứng với các bậc nhận thức sẽ gợi mở vấn đề dần dần làm cho HS hứng thú, say mê môn học, từ đó tích cực học tập, tích cực tư duy hơn. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tính tích cực và phương pháp dạy học tích cực 1. Khái niệm tính tích cực Từ điển tiếng Việt do GS.
Nguyễn Như Ý biên soạn [37, tr. 1120] viết: Tính tích cực được hiểu theo hai nghĩa: Một là chủ động hướng hoạt động nhằm tạo ra những thay đổi, phát triển (tư tưởng tích cực, phương pháp tích cực). Hai là hăng hái, năng nổ với công việc (tích cực học tập, tích cực làm việc). Vũ Hồng Tiến [32]: Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người, bởi vì để tồn tại và phát triển con người luôn phải chủ động, tích cực cải biến môi trường tự nhiên, cải tạo xã hội.Ôkôn trong cuốn “Những cơ sở của việc dạy học nêu vấn đề” [27] cho rằng tính tích cực là lòng mong muốn hành động được nảy sinh một cách không chủ định và gây nên những biểu hiện bên ngoài hoặc bên trong của sự hoạt động.
Chủ thể đã ý thức được mục đích hành động. Xét dưới góc độ Triết học, phép biện chứng duy vật cho rằng mọi sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan luôn vận động và phát triển không ngừng. Lênin [20] tính tích cực là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể, đối với đối tượng sự vật xung quanh; là khả năng của mỗi người đối với việc tổ chức cuộc sống, điều chỉnh những nhu cầu, năng lực của họ thông qua các mối quan hệ xã hội. Dựa vào các quan điểm trên, theo quan điểm của tác giả trong luận văn này, tính tích cực của cá nhân là một thuộc tính của nhân cách, được nảy sinh, hình thành, phát triển trong hoạt động của cá nhân đó.
Tính tích cực gồm có tính chủ động, sáng tạo, có ý thức của chủ thể trong hoạt động. Tính tích cực của cá nhân thể hiện ở sự nỗ lực cố gắng của bản thân, chủ động, tự giác hoạt động và đạt kết quả cao trong hoạt động có mục đích của cá nhân đó. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tư duy tích cực Tư duy tích cực [11] là chủ động, dùng thái độ của mình để tạo ra thế giới của mình.
Thế giới của mình là cơ thể và đầu óc của mình, gia đình mình, bạn bè mình, những công việc mình làm, những người mình giao tiếp hằng ngày. Chủ động tích cực để biến thế giới và những người trong thế giới của mình trở thành vui vẻ hơn và tích cực hơn. Một trong những câu hỏi ta hay gặp khi nói đến tư duy tích cực là: Đôi khi ta cũng cần phải phê phán chứ ? Critical thinking là một phương pháp phân tích để tìm hiểu một vấn đề thật kỹ, tạm dịch là tư duy phê phán, là một phương thức suy nghĩ rất được chú trọng ngày nay. Đây là cách suy nghĩ đặt trọng tâm vào nghi vấn - đánh dấu hỏi tất cả các tiền đề, các kết luận, các dữ kiện, các phương pháp làm việc, trong một vấn đề, cho đến khi ta thỏa mãn với độ chính xác của tất cả các điều này và đi đến một kết luận chính xác.
Và nếu nói đến nghi vấn và phê phán tức là nói đến việc phải mang cái xấu (và cái tốt) ra mổ xẻ. Mà nói đến cái xấu là có người nghĩ rằng như vậy có vẻ không tích cực. Positivie thinking là tư duy tích cực, là một thái độ sống, một phương thức suy nghĩ tích cực. Critical thinking (tư duy phê phán) và positive thinking (tư duy tích cực) đều cần thiết và có thể đi đôi với nhau.
Khái niệm tính tích cực học tập Vấn đề phát huy tính tích cực trong học tập của học sinh luôn được các nhà lãnh đạo, các nhà Giáo dục học, Tâm lý học, thậm chí cả những nhà Triết học đã tìm hiểu và nghiên cứu, bởi đây là một trong những yếu tố quyết định đến thành quả học tập của học sinh. Quá trình học tập của học sinh cũng diễn ra theo công thức của Lênin về quá trình nhận thức [20]: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan”. Nhưng quá trình nhận thức của học sinh không diễn ra theo con đường mò mẫm, thử và sai như quá trình nhận thức của các nhà khoa học. Trong học tập học sinh nhận thức thế giới thông 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com qua các tài liệu học tập, được chọn lọc từ các thành quả của nền văn minh nhân loại và sắp xếp theo một chương trình.
Việc học tập của học sinh bao giờ cũng có hướng dẫn, có kiểm tra, uốn nắn từ phía giáo viên, cho nên việc nhận thức của học sinh trở nên độc đáo [36, tr. Do vậy, trong một thời gian ngắn hơn, học sinh có thể lĩnh hội khối lượng lớn tri thức một cách thuận lợi. Một số nhà tâm lý học cho rằng hoạt động học tập là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bởi mục đích tự giác để lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những hình thức hành vi và những dạng hoạt động nhất định nhằm phát triển nhân cách của chính mình [21, tr. Hoạt động học tập với tư cách là hoạt động nhận thức tích cực, tự lực và sáng tạo, là một quá trình căng thẳng, đòi hỏi phải nỗ lực thường xuyên [21, tr.
Mọi hoạt động đều phải có ý thức, việc học tập càng phải có ý thức. Người học phải xác định được mục đích học tập, có động cơ và thái độ học tập đúng, có kế hoạch học tập chủ động và luôn tích cực thực hiện tốt kế hoạch đó. Tính tích cực học tập thể hiện ở cả hai mặt: chuyên cần và tính sâu sắc trong các hoạt động trí tuệ.