Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Một số biện pháp phát huy tính sáng tạo cho học sinh trong dạy học môn Thủ công lớp 3" được thực hiện bởi sinh viên Nguyễn Thị Thanh Thúy (ngành Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, năm 2018), dưới sự hướng dẫn của ThS. Trần Thị Kim Cúc.

Về bối cảnh thực tiễn, tác giả chỉ ra rằng Thủ công là môn học mang đậm tính thực hành ở bậc tiểu học, đóng vai trò rèn luyện cho học sinh các kỹ năng cơ bản, đức tính kiên trì, tỉ mỉ và khả năng sáng tạo ra các sản phẩm riêng biệt. Căn cứ pháp lý của nghiên cứu dựa trên Luật Giáo dục:

  • Điều 27 xác định giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn, lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản.
  • Điều 28 nhấn mạnh phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học; bồi dưỡng khả năng làm việc theo nhóm và rèn luyện kỹ năng vận dụng vào thực tiễn.

Tuy nhiên, thực tế dạy học môn Thủ công tại các trường tiểu học vẫn còn bị xem là môn phụ, dẫn đến việc chưa được đầu tư đúng mức. Năng lực vận dụng phương pháp dạy học của một bộ phận giáo viên còn hạn chế; hoạt động dạy học diễn ra đơn điệu, chủ yếu theo hình thức thuyết trình lý thuyết và làm mẫu thụ động theo sách giáo khoa. Học sinh chỉ thực hành rập khuôn theo mẫu của giáo viên, thiếu không gian bộc lộ năng lực sáng tạo cá nhân.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về mức độ tính sáng tạo của học sinh tiểu học trong môn Thủ công, từ đó đề xuất một số biện pháp sư phạm nhằm phát huy tính sáng tạo cho học sinh lớp 3.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định gồm 4 nội dung:

  1. Nghiên cứu cơ sở lí luận về biện pháp phát huy tính sáng tạo cho học sinh lớp 3 trong môn Thủ công.
  2. Tìm hiểu thực trạng sử dụng biện pháp phát huy tính sáng tạo cho học sinh ở trường tiểu học hiện nay và mức độ phát triển năng lực sáng tạo của học sinh lớp 3.
  3. Đề xuất một số biện pháp phát huy tính sáng tạo cho học sinh lớp 3 trong môn Thủ công.
  4. Tổ chức thực nghiệm sư phạm các biện pháp đã đề xuất để đánh giá tính khoa học, đúng đắn và kiểm chứng giả thuyết khoa học của đề tài.

Giả thuyết khoa học: Nếu trong hoạt động dạy học môn Thủ công, giáo viên biết sử dụng các biện pháp phù hợp thì học sinh sẽ không còn thực hiện một cách rập khuôn, máy móc trong giờ thực hành; giáo viên cũng linh hoạt hơn trong quá trình tổ chức dạy học, giúp học sinh phát huy tối đa khả năng sáng tạo.

Khách thể và đối tượng nghiên cứu:

  • Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn Thủ công lớp 3.
  • Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp phát huy tính sáng tạo cho học sinh lớp 3 trong môn Thủ công.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Về nội dung: Nghiên cứu năng lực sáng tạo của học sinh lớp 3 và biểu hiện của năng lực này qua dạy học môn Thủ công.
  • Về địa bàn: Nghiên cứu thực trạng và triển khai các biện pháp tại Trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, thành phố Đà Nẵng (có phối hợp khảo sát mở rộng tại Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết đa diện từ tâm lý học, giáo dục học và lý luận dạy học bộ môn kỹ thuật:

  • Khái niệm và cấp độ sáng tạo: Tác giả tổng hợp quan niệm từ Từ điển Tiếng Việt, Trần Hiệp – Đỗ Long, tiếp cận sáng tạo theo quá trình (E. Torrance, Willson), theo nhân cách (Pippig, Urban) và theo sản phẩm (Ghiselin, Guilford). Về cấp độ, nghiên cứu phân định 2 cấp độ giá trị sản phẩm (khách quan và chủ quan) cùng 5 cấp độ sáng tạo theo Irving Taylor: sáng tạo biểu hiện, sáng tạo chế tạo, sáng tạo phát kiến, sáng tạo cải tiến và sáng tạo trí tuệ đặc biệt.
  • Năng lực tư duy sáng tạo: Khóa luận viện dẫn các nghiên cứu của Huỳnh Văn Sơn, Hồ Bá Thâm, Tôn Thân, Mehlhow, DanTon, và mô hình vòng tròn đồng tâm của V. Cruxtexki (mối quan hệ giữa tư duy sáng tạo, tư duy tích cực và tư duy độc lập). Tư duy sáng tạo gồm 5 thành phần: tính mềm dẻo, tính nhuần nhuyễn, tính độc đáo, tính hoàn thiện và tính nhạy cảm với vấn đề.
  • Lý thuyết tư duy kỹ thuật và năng lực kỹ thuật: Áp dụng mô hình của Cuđriabxép về 3 thành phần tư duy kỹ thuật có mối quan hệ tương hỗ: khái niệm (tư duy trừu tượng), hình ảnh (tư duy trực quan) và thực hành (tư duy thao tác). Năng lực kỹ thuật được cấu thành từ 3 yếu tố: yếu tố chủ đạo (tư duy và tưởng tượng kỹ thuật), yếu tố bổ trợ (quan sát và trí nhớ kỹ thuật), và yếu tố điểm tựa (hứng thú kỹ thuật và sự khéo tay).
  • Đặc điểm tâm sinh lý học sinh lớp 3: Hệ xương và thần kinh đang trong giai đoạn hoàn thiện; tri giác gắn liền với hành động trực quan cụ thể; tư duy đang chuyển dần từ trực quan hình tượng sang tư duy trừu tượng; trí tưởng tượng phát triển nhưng còn tản mạn; chú ý có chủ định hình thành nhưng chưa bền vững.
  • Kỹ thuật tạo hình bằng giấy bìa: Phân tích quy chuẩn của 4 kỹ thuật cơ bản: xé – dán, cắt – dán, gấp hình và đan nan (nong mốt, nong đôi); trong đó chương trình lớp 3 tập trung vào 3 kỹ thuật: gấp hình, cắt dán hình và đan nan.

Hệ thống phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai bao gồm:

  1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa và cụ thể hóa tài liệu lý luận.
  2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (Anket): Khảo sát thực trạng trên 172 học sinh lớp 3 (thuộc 4 lớp) và 15 giáo viên đang giảng dạy khối 3 tại 2 trường: Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ và Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi (Đà Nẵng).
    • Phương pháp quan sát sư phạm: Dự giờ các tiết dạy mẫu môn Thủ công của giáo viên khối 3 và quan sát sản phẩm tạo hình của học sinh.
    • Phương pháp trò chuyện: Trao đổi trực tiếp với giáo viên có nhiều năm kinh nghiệm về kế hoạch bài dạy, phương pháp tổ chức và biện pháp kích thích sáng tạo.
    • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thiết kế và tiến hành dạy thực nghiệm các bài học nội dung gấp, cắt, dán giấy bìa.
  3. Phương pháp thống kê toán học: Xử lý, tính toán tỷ lệ phần trăm các dữ liệu điều tra thực trạng và số liệu thực nghiệm.

Nguồn dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp thu nhận từ 172 phiếu anket học sinh, 15 phiếu anket giáo viên, biên bản quan sát giờ dạy, sản phẩm thủ công thực tế và số liệu kiểm tra đánh giá trước – sau thực nghiệm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

Chương 1 làm rõ các tiền đề lý thuyết và khảo sát toàn diện thực trạng dạy học môn Thủ công lớp 3. Tác giả hệ thống hóa mục tiêu, nhiệm vụ và cấu trúc chương trình Thủ công lớp 3 với thời lượng 35 tiết/năm (1 tiết/tuần), phân bổ trong 4 chương:

  • Chương I: Phối hợp gấp, cắt, dán hình (6 bài: Bọc vở sách [giảm tải]; Tàu thủy hai ống khói; Con ếch; Ngôi sao năm cánh và lá cờ đỏ sao vàng; Bông hoa; Ôn tập).
  • Chương II: Cắt, dán chữ cái đơn giản (6 bài: Chữ I, T; Chữ H, U; Chữ V, A; Chữ E, D; Chữ VUI VẺ; Ôn tập).
  • Chương III: Đan nan (3 bài: Đan nong mốt; Đan nong đôi; Đan hoa chữ thập đơn [giảm tải]).
  • Chương IV: Làm đồ chơi (4 bài: Làm lọ hoa gắn tường; Làm đồng hồ để bàn; Làm quạt giấy tròn; Ôn tập chương III và IV).

Về cơ sở thực tiễn, tác giả công bố chi tiết kết quả điều tra 172 học sinh và 15 giáo viên tại Trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ và Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi:

Bảng 1: Tổng hợp mức độ hứng thú và hành vi học tập của học sinh lớp 3 (n = 172)

Tiêu chí khảo sát Phân loại câu trả lời Số lượng (học sinh) Tỷ lệ (%)
Mức độ yêu thích môn Thủ công (Bảng 1.1) Rất thích 160 93,02%
Thích 4 2,33%
Bình thường 5 2,91%
Không thích 3 1,74%
Thái độ sau khi hoàn thành sản phẩm (Bảng 1.3) Rất vui và tự hào 159 92,44%
Bình thường 9 5,23%
Mệt mỏi 4 2,33%
Cách thức trình bày sản phẩm (Bảng 1.4) Chỉ dán sản phẩm vào vở 9 5,23%
Trang trí cho sản phẩm và xung quanh 163 94,77%
Hoạt động học tập yêu thích nhất (Bảng 1.5) Tổ chức trò chơi 158 91,86%
Tổ chức học tập theo nhóm 10 5,81%
Tổ chức học thực hành 4 2,33%
Tổ chức học lý thuyết 0 0%
Mức độ hoàn thành sản phẩm (Bảng 1.6) Hoàn thành tốt 17 9,88%
Hoàn thành 145 84,30%
Chưa hoàn thành 10 5,82%
Hình thức hướng dẫn yêu thích (Bảng 1.7) Giảng bài chủ yếu bằng lời 0 0%
Lời giảng kèm tranh quy trình, vật mẫu 18 11,47%
Bài giảng điện tử kèm hình ảnh, video 154 89,53%

Bảng 2: Mức độ giáo viên vận dụng các phương pháp dạy học mới (n = 15, Bảng 1.10)

Phương pháp dạy học Thường xuyên (%) Thỉnh thoảng (%) Không bao giờ (%)
Sử dụng hệ thống câu hỏi mang tính gợi mở 100% 0% 0%
Sử dụng kết hợp các phương pháp đặc trưng 100% 0% 0%
Sử dụng trò chơi học tập 80,00% 20,00% 0%
Tổ chức làm việc theo nhóm 46,67% 53,33% 0%
Phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề 20,00% 46,67% 33,34%

Kết quả điều tra giáo viên cũng chỉ ra: 100% giáo viên nhận thức đúng định nghĩa tư duy sáng tạo (Bảng 1.8) và đánh giá phương pháp dạy học tích cực có tầm quan trọng cao đối với việc phát huy sáng tạo (Bảng 1.9). 100% giáo viên đồng thuận rằng biểu hiện sáng tạo của học sinh thể hiện ở việc đưa ra giải pháp mới, trang trí sản phẩm độc đáo và tạo ra sản phẩm đúng kỹ thuật dù kích thước, màu sắc khác quy chuẩn mẫu (Bảng 1.11).

Chương 2: Đề xuất một số biện pháp phát huy tính sáng tạo cho học sinh lớp 3 trong dạy học môn Thủ công

Dựa trên mục tiêu chương trình, đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi và kết quả điều tra thực trạng, tác giả xây dựng 4 biện pháp sư phạm:

  1. Tổ chức học tập môn Thủ công theo nhóm: Xác lập cơ sở lý thuyết về tương tác nhóm, quy trình chia nhóm, phân công nhiệm vụ, trao đổi ý tưởng tạo hình và phối hợp hoàn thiện sản phẩm chung kèm ví dụ bài dạy cụ thể.
  2. Vận dụng kĩ thuật động não (Brainstorming): Thiết lập các câu hỏi kích thích tư duy, khuyến khích học sinh đưa ra nhiều ý tưởng cải tiến mẫu gấp, thay thế chất liệu giấy bìa, phối màu và tìm kiếm phương án kỹ thuật mới trong thời gian ngắn.
  3. Tăng cường tổ chức trò chơi học tập: Thiết kế các trò chơi gắn với nội dung gấp, cắt, dán và đan nan nhằm giải tỏa áp lực thao tác, kích thích hứng thú tri giác và tinh thần thi đua sáng tạo.
  4. Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học Thủ công: Xây dựng giáo án điện tử, tích hợp hình ảnh đa chiều, video quay chậm quy trình kỹ thuật các nếp gấp khó giúp học sinh dễ dàng hình dung và chủ động thực hành.

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Chương 3 trình bày việc kiểm chứng tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất:

  • Mục đích: Đánh giá tác động của các biện pháp sư phạm đề xuất đối với việc phát huy tính tích cực và năng lực sáng tạo của học sinh lớp 3 trong giờ Thủ công.
  • Đối tượng và nội dung: Triển khai thực nghiệm trên học sinh khối lớp 3 qua các bài dạy về nội dung gấp, cắt, dán giấy bìa.
  • Tiến trình thực nghiệm: Tiến hành qua 2 giai đoạn gồm khảo sát mức độ năng lực trước thực nghiệm và tổ chức dạy học thực nghiệm hình thành.
  • Kết quả thực nghiệm: Văn bản tổng kết kết quả qua Biểu đồ 3.1 ("So sánh trước và sau thực nghiệm", trang 65 của khóa luận), xác nhận sự chuyển biến tích cực về tỷ lệ học sinh đạt mức hoàn thành tốt và gia tăng các sản phẩm có chi tiết trang trí sáng tạo sau khi áp dụng các biện pháp mới.

Kết quả và đóng góp

Về kết quả định lượng thực tế, nghiên cứu cung cấp bức tranh số liệu rõ ràng về hoạt động học tập môn Thủ công lớp 3:

  • 93,02% học sinh rất yêu thích môn Thủ công và 92,44% cảm thấy vui, tự hào khi hoàn thành sản phẩm.
  • 94,77% học sinh có nhu cầu trang trí thêm cho sản phẩm và không gian xung quanh thay vì chỉ dán đơn thuần vào vở.
  • 91,86% học sinh mong muốn được học tập thông qua trò chơi và 89,53% học sinh hứng thú với bài giảng điện tử có video minh họa quy trình.
  • Đánh giá sản phẩm ban đầu cho thấy: tỷ lệ hoàn thành tốt chỉ đạt 9,88%, mức hoàn thành chiếm đa số với 84,30%, và còn 5,82% chưa hoàn thành do thao tác chậm hoặc chưa nắm vững quy trình.
  • Về phía giáo viên, 100% đánh giá cao vai trò của phương pháp dạy học tích cực; tuy nhiên, phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề mới chỉ được 20% giáo viên áp dụng thường xuyên (33,34% không bao giờ dùng).

Về giải pháp đề xuất, tác giả đã hệ thống hóa 4 biện pháp đồng bộ: học tập theo nhóm, kỹ thuật động não, trò chơi học tập và ứng dụng bài giảng điện tử đa phương tiện.

Về đóng góp học thuật, tác giả tự nhận định: Trong khi các công trình đi trước ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào môn Kỹ thuật lớp 4, 5 (lắp ghép mô hình kỹ thuật) hoặc nghiên cứu của Phan Thị Chiến tập trung vào môn Thủ công lớp 1, thì khóa luận này đã giải quyết khoảng trống nghiên cứu thực nghiệm về phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh lớp 3 qua phân môn Thủ công.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài:

  • Khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm chỉ mới được tiến hành trong phạm vi hẹp tại 2 trường tiểu học trên địa bàn quận thuộc thành phố Đà Nẵng (Trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ và Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi).
  • Nội dung thực nghiệm sư phạm tập trung chủ yếu vào mạch kiến thức gấp, cắt, dán giấy bìa, chưa mở rộng đồng đều sang kỹ thuật đan nan và làm đồ chơi phối hợp đa chất liệu.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát và thực nghiệm tại nhiều trường tiểu học với điều kiện cơ sở vật chất khác nhau (vùng nông thôn, ngoại thành).
  • Đi sâu nghiên cứu các biện pháp kích thích tư duy kỹ thuật trong các bài học đan nan (nong mốt, nong đôi) và các chủ đề làm đồ chơi từ vật liệu tái chế.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên môn phù hợp cho:

  • Giáo viên tiểu học: Cung cấp quy trình vận dụng kỹ thuật động não, tổ chức trò chơi và bài giảng trình chiếu video hỗ trợ trực quan cho các bài gấp con ếch, làm đồng hồ để bàn, cắt chữ cái, đan nan.
  • Sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học: Tài liệu tham khảo hữu ích về phương pháp nghiên cứu sư phạm ứng dụng, cách thức thiết kế bảng hỏi anket điều tra thực trạng dạy học bộ môn kỹ thuật và quy trình xử lý số liệu khảo sát.
  • Cán bộ quản lý chuyên môn: Cung cấp căn cứ thực tế về mức độ tiếp nhận đồ dùng dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi mới sinh hoạt chuyên môn khối 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Chương trình Thủ công lớp 3 gồm những nội dung chính nào và thời lượng quy định ra sao?
Chương trình có thời lượng 35 tiết/năm học (1 tiết/tuần x 35 tuần), bao gồm 4 chương: Chương I (Phối hợp gấp, cắt, dán hình), Chương II (Cắt, dán chữ cái đơn giản), Chương III (Đan nan) và Chương IV (Làm đồ chơi). Trong đó, bài 1 (Bọc vở, sách) và bài 15 (Đan hoa chữ thập đơn) thuộc diện giảm tải.

2. Học sinh lớp 3 thích hình thức giáo viên hướng dẫn bài học như thế nào nhất theo khảo sát?
Theo kết quả điều tra 172 học sinh (Bảng 1.7), có tới 89,53% học sinh thích giáo viên giảng bài có sử dụng bài giảng điện tử kèm hình ảnh và các đoạn phim minh họa thao tác; 11,47% thích giảng bằng lời kết hợp tranh quy trình và vật mẫu; không có học sinh nào (0%) chọn hình thức chỉ giảng bài bằng lời nói đơn thuần.

3. Tác giả vận dụng mô hình lý thuyết nào để phân tích tư duy kỹ thuật của học sinh?
Tác giả vận dụng cấu trúc tư duy kỹ thuật của nhà tâm lý học Cuđriabxép, bao gồm 3 thành phần có mối quan hệ tương hỗ bình đẳng: khái niệm (tư duy trừu tượng), hình ảnh (tư duy trực quan) và thực hành (tư duy thao tác).

4. Bốn biện pháp sư phạm cụ thể được tác giả đề xuất tại Chương 2 là gì?
Bốn biện pháp gồm: (1) Tổ chức học tập môn Thủ công theo nhóm; (2) Vận dụng kĩ thuật động não; (3) Tăng cường tổ chức trò chơi học tập; (4) Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học Thủ công.

5. Thực trạng đánh giá sản phẩm môn Thủ công của học sinh tại thời điểm điều tra đạt mức độ nào?
Theo khảo sát tại Bảng 1.6 trên 172 học sinh, tỷ lệ sản phẩm được đánh giá Hoàn thành tốt chiếm 9,88% (17 học sinh), mức Hoàn thành chiếm đa số với 84,30% (145 học sinh), và mức Chưa hoàn thành chiếm 5,82% (10 học sinh).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thanh Thúy đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về tư duy sáng tạo và năng lực kỹ thuật của học sinh lớp 3 trong phân môn Thủ công. Thông qua khảo sát thực trạng trên 172 học sinh và 15 giáo viên tại thành phố Đà Nẵng, công trình đã phản ánh chân thực nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học trực quan và ứng dụng công nghệ thông tin. Hệ thống 4 biện pháp sư phạm đề xuất cùng kết quả thực nghiệm đã chứng minh tính đúng đắn của giả thuyết khoa học, góp phần nâng cao chất lượng dạy học Thủ công theo định hướng phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh tiểu học.