Một Số Biện Pháp Phát Huy Tính Sáng Tạo Cho Học Sinh Trong Dạy Học Môn Thủ Công Lớp 3

Bài viết trình bày các biện pháp phát huy tính sáng tạo cho học sinh lớp 3 trong dạy học môn thủ công, giúp nâng cao kỹ năng và tư duy.

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Giáo dục tiểu học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2018

100
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài

0.2. Lịch sử nghiên cứu đề tài

0.3. Mục đích nghiên cứu

0.4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

0.4.1. Khách thể nghiên cứu

0.4.2. Đối tượng nghiên cứu

0.5. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.6. Giả thuyết khoa học

0.7. Phạm vi nghiên cứu

0.8. Phương pháp nghiên cứu

0.8.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

0.8.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

0.8.2.1. Phương pháp điều tra bằng Anket
0.8.2.2. Phương pháp quan sát
0.8.2.3. Phương pháp trò chuyện
0.8.2.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm

0.8.3. Phương pháp thống kê toán học

0.9. Cấu trúc đề tài

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Một số khái niệm cơ bản

1.1.1. Khái niệm về sáng tạo

1.1.2. Các tiêu chí và cấp độ của sáng tạo

1.2. Cơ sở thực tiễn

1.2.1. Mục tiêu môn Thủ công lớp 3

1.2.2. Nội dung môn Thủ công lớp 3

1.2.3. Thực trạng dạy và học môn Thủ công ở Tiểu học

1.2.4. Thực trạng dạy học môn Thủ công lớp 3 ở trường tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, thành phố Đà Nẵng

1.2.4.1. Thực trạng học tập môn Thủ công ở lớp 3
1.2.4.2. Thực trạng dạy học môn Thủ công ở lớp 3

2. CHƯƠNG 2: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT HUY TÍNH SÁNG TẠO CHO HỌC SINH LỚP 3 TRONG DẠY HỌC MÔN THỦ CÔNG

2.1. Cơ sở xây dựng biện pháp

2.1.1. Dựa vào mục tiêu, nội dung chương trình môn Thủ công lớp 3

2.1.2. Dựa vào đặc điểm tâm sinh lí của học sinh lớp 3

2.1.3. Dựa vào kết quả điều tra thực trạng

2.2. Các biện pháp phát huy tính sáng tạo cho học sinh lớp 3 trong dạy học môn Thủ công

2.2.1. Tổ chức học tập môn Thủ công theo nhóm

2.2.1.1. Cơ sở lí thuyết của biện pháp
2.2.1.2. Cách thức sử dụng biện pháp
2.2.1.3. Ví dụ minh họa

2.2.2. Vận dụng kĩ thuật động não

2.2.2.1. Cơ sở lí thuyết của biện pháp
2.2.2.2. Cách thức sử dụng biện pháp
2.2.2.3. Ví dụ minh họa

2.2.3. Tăng cường tổ chức trò chơi học tập

2.2.3.1. Cơ sở lí thuyết của biện pháp
2.2.3.2. Ví dụ minh họa

2.2.4. Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học Thủ công

2.2.4.1. Cơ sở lí thuyết của biện pháp
2.2.4.2. Cách thức sử dụng biện pháp
2.2.4.3. Ví dụ minh họa

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích thực nghiệm

3.2. Đối tượng thực nghiệm

3.3. Chuẩn bị thực nghiệm

3.3.1. Nội dung thực nghiệm

3.3.2. Phương pháp thực nghiệm

3.3.3. Tiêu chí thực nghiệm

3.4. Tiến hành thực nghiệm

3.4.1. Khảo sát trước thực nghiệm

3.4.2. Thực nghiệm hình thành

3.5. Kết quả thực nghiệm

PHẦN KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phát Huy Sáng Tạo Trong Dạy Thủ Công Lớp 3

Môn Thủ công ở lớp 3 đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển toàn diện học sinh tiểu học. Môn học này không chỉ trang bị kỹ năng cơ bản mà còn rèn luyện đức tính kiên trì, tỉ mỉ. Quan trọng hơn, nó tạo cơ hội cho các em thỏa sức sáng tạo, tạo ra những sản phẩm độc đáo của riêng mình. Theo Luật Giáo dục, giáo dục tiểu học cần phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Phát triển tư duy sáng tạo là một nhiệm vụ quan trọng trong dạy học. Tuy nhiên, thực tế dạy học môn Thủ công hiện nay chưa được chú trọng đúng mức. Nhiều người vẫn coi đây là môn phụ, ít quan tâm đến việc phát triển tính sáng tạo cho học sinh. Vì vậy, việc nghiên cứu và tìm ra các biện pháp phát huy tính sáng tạo trong môn Thủ công là vô cùng cần thiết.

1.1. Tầm quan trọng của môn Thủ công trong giáo dục tiểu học

Môn Thủ công không chỉ là hoạt động thực hành đơn thuần mà còn là phương tiện để phát triển tư duy, khuyến khích học sinh sáng tạo và khám phá thế giới xung quanh. Nó giúp các em rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, đồng thời bồi dưỡng tình cảm, thẩm mỹ. Môn học này tạo ra môi trường học tập tích cực, nơi học sinh được tự do thể hiện ý tưởng và phát triển năng lực sáng tạo của bản thân.

1.2. Mục tiêu của việc phát huy tính sáng tạo trong môn Thủ công

Mục tiêu chính là giúp học sinh phát triển tư duy linh hoạt, khả năng giải quyết vấn đề và tạo ra những sản phẩm độc đáo, mang dấu ấn cá nhân. Đồng thời, mục tiêu phát huy tính sáng tạo trong dạy thủ công lớp 3 còn giúp các em tự tin hơn vào khả năng của mình, khuyến khích học sinh sáng tạo trong thủ công lớp 3 và yêu thích môn học hơn.

II. Thực Trạng Thách Thức Dạy Thủ Công Sáng Tạo Lớp 3

Thực tế dạy học môn Thủ công lớp 3 hiện nay còn nhiều hạn chế. Một số giáo viên chưa nhận thức đúng đắn về vai trò của môn học trong việc phát triển tư duy, trí tưởng tượng và óc sáng tạo của học sinh. Năng lực vận dụng phương pháp dạy học còn hạn chế, các hoạt động dạy học thường đơn điệu, không kích thích được hứng thú và nhu cầu khám phá của học sinh. Việc dạy học còn mang tính khuôn mẫu, ít chú trọng đến tính chủ động và khả năng thực hành của học sinh. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Thúy (2018), việc dạy học Thủ công còn mang tính khuôn mẫu bằng hình thức nêu lí thuyết, hướng dẫn mẫu rồi cho học sinh thực hành, ít chú trọng đến tính chủ động và khả năng thực hành của học sinh.

2.1. Hạn chế trong phương pháp giảng dạy môn Thủ công

Phương pháp giảng dạy còn nặng về lý thuyết, ít thực hành, thiếu sự sáng tạo trong dạy thủ công lớp 3. Giáo viên thường hướng dẫn theo khuôn mẫu, ít khuyến khích học sinh tự tìm tòi, khám phá. Điều này khiến học sinh cảm thấy nhàm chán, không hứng thú với môn học và không phát huy được khả năng sáng tạo của mình.

2.2. Thiếu hụt về đồ dùng dạy học và tài liệu tham khảo

Sự thiếu thốn về đồ dùng dạy học thủ công lớp 3 sáng tạotài liệu dạy thủ công lớp 3 sáng tạo cũng là một trong những nguyên nhân cản trở việc phát huy tính sáng tạo của học sinh. Giáo viên gặp khó khăn trong việc chuẩn bị các hoạt động thực hành đa dạng, phong phú, ý tưởng dạy thủ công lớp 3 sáng tạo và học sinh không có đủ nguồn tài liệu để tham khảo, mở rộng kiến thức.

2.3. Đánh giá chưa chú trọng đến sự sáng tạo của học sinh

Việc đánh giá sự sáng tạo trong thủ công lớp 3 thường chỉ tập trung vào kỹ năng thực hành, ít quan tâm đến tính sáng tạo và độc đáo của sản phẩm. Điều này khiến học sinh cảm thấy không được khuyến khích, động viên để phát huy khả năng sáng tạo của mình.

III. Cách Tổ Chức Học Nhóm Phát Huy Sáng Tạo Thủ Công Lớp 3

Tổ chức học tập theo nhóm là một biện pháp hiệu quả để phát huy tính sáng tạo cho học sinh lớp 3 trong môn Thủ công. Khi làm việc nhóm, học sinh có cơ hội trao đổi ý tưởng, học hỏi lẫn nhau và cùng nhau giải quyết vấn đề. Điều này giúp các em phát triển tư duy phản biện, khả năng hợp tác và khuyến khích học sinh sáng tạo trong thủ công lớp 3. Theo Nguyễn Thị Thanh Thúy (2018), tổ chức học tập môn Thủ công theo nhóm giúp học sinh phát huy hết khả năng sáng tạo của mình.

3.1. Lợi ích của việc học nhóm trong môn Thủ công

Học nhóm tạo ra môi trường học tập cởi mở, thân thiện, nơi học sinh được tự do thể hiện ý kiến và phát triển tư duy sáng tạo qua môn thủ công lớp 3. Các em có cơ hội học hỏi kinh nghiệm, kỹ năng từ bạn bè, đồng thời rèn luyện khả năng giao tiếp, hợp tác và giải quyết vấn đề.

3.2. Hướng dẫn tổ chức hoạt động nhóm hiệu quả

Giáo viên cần chia nhóm hợp lý, giao nhiệm vụ rõ ràng cho từng thành viên và tạo điều kiện để các em trao đổi, thảo luận. Đồng thời, giáo viên cần theo dõi, hỗ trợ các nhóm trong quá trình làm việc và đánh giá sự sáng tạo trong thủ công lớp 3 một cách công bằng, khách quan.

3.3. Ví dụ minh họa về hoạt động nhóm sáng tạo

Ví dụ, giáo viên có thể giao cho các nhóm nhiệm vụ thiết kế và tạo ra một mô hình ngôi nhà từ vật liệu tái chế. Các thành viên trong nhóm sẽ cùng nhau lên ý tưởng, phân công công việc và thực hiện. Quá trình này giúp các em phát huy tính sáng tạo, kỹ năng làm việc nhóm và ý thức bảo vệ môi trường.

IV. Vận Dụng Kỹ Thuật Động Não Khơi Gợi Sáng Tạo Thủ Công Lớp 3

Kỹ thuật động não (Brainstorming) là một phương pháp hiệu quả để khơi gợi tính sáng tạo và tìm ra nhiều ý tưởng mới trong môn Thủ công. Kỹ thuật này khuyến khích học sinh tự do đưa ra ý kiến, không phê phán, đánh giá, từ đó tạo ra một danh sách các ý tưởng đa dạng, phong phú. Theo Nguyễn Thị Thanh Thúy (2018), vận dụng kĩ thuật động não giúp học sinh phát huy hết khả năng sáng tạo của mình.

4.1. Nguyên tắc cơ bản của kỹ thuật động não

Nguyên tắc quan trọng nhất là khuyến khích mọi người tự do đưa ra ý kiến, không phê phán, đánh giá. Mục tiêu là tạo ra một danh sách các ý tưởng càng nhiều càng tốt, sau đó mới chọn lọc và phát triển những ý tưởng tiềm năng.

4.2. Các bước thực hiện kỹ thuật động não trong môn Thủ công

Bước 1: Xác định vấn đề cần giải quyết. Bước 2: Chia nhóm và hướng dẫn học sinh tự do đưa ra ý kiến. Bước 3: Ghi lại tất cả các ý kiến, không phê phán, đánh giá. Bước 4: Chọn lọc và phát triển những ý tưởng tiềm năng. Bước 5: Thực hiện ý tưởng và tạo ra sản phẩm.

4.3. Ví dụ minh họa về ứng dụng kỹ thuật động não

Ví dụ, giáo viên có thể đặt câu hỏi: "Chúng ta có thể làm gì từ những chiếc lá khô?". Học sinh sẽ tự do đưa ra ý kiến, ví dụ như: làm tranh, làm đồ chơi, làm vật trang trí... Sau đó, giáo viên sẽ giúp các em chọn lọc và phát triển những ý tưởng khả thi nhất.

V. Tăng Cường Trò Chơi Học Tập Phát Triển Sáng Tạo Thủ Công Lớp 3

Trò chơi học tập là một phương pháp dạy học hiệu quả, giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách tự nhiên, hứng thú. Tăng cường tổ chức trò chơi học tập trong môn Thủ công không chỉ giúp các em ôn luyện kiến thức, kỹ năng mà còn phát triển tư duy sáng tạo, khả năng giải quyết vấn đề và khuyến khích học sinh sáng tạo trong thủ công lớp 3. Theo Nguyễn Thị Thanh Thúy (2018), tăng cường tổ chức trò chơi học tập giúp học sinh phát huy hết khả năng sáng tạo của mình.

5.1. Lợi ích của trò chơi học tập trong môn Thủ công

Trò chơi học tập tạo ra môi trường học tập vui vẻ, thoải mái, giúp học sinh giảm căng thẳng, mệt mỏi. Đồng thời, trò chơi còn giúp các em rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm, tư duy phản biện và phát triển tư duy sáng tạo qua môn thủ công lớp 3.

5.2. Gợi ý một số trò chơi học tập sáng tạo trong môn Thủ công

Ví dụ: Trò chơi "Ai nhanh hơn" (thi gấp giấy, cắt dán), trò chơi "Sáng tạo cùng vật liệu" (tạo ra sản phẩm từ vật liệu tái chế), trò chơi "Giải ô chữ" (về các kiến thức, kỹ năng trong môn Thủ công)...

5.3. Lưu ý khi tổ chức trò chơi học tập

Giáo viên cần lựa chọn trò chơi phù hợp với nội dung bài học, trình độ của học sinh và thời gian cho phép. Đồng thời, giáo viên cần hướng dẫn rõ ràng luật chơi, đảm bảo tính công bằng, khách quan và tạo điều kiện để tất cả học sinh đều được tham gia.

VI. Ứng Dụng CNTT Hỗ Trợ Dạy Thủ Công Sáng Tạo Lớp 3 Hiệu Quả

Ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào dạy học Thủ công là một xu hướng tất yếu trong thời đại số. CNTT có thể hỗ trợ giáo viên trong việc chuẩn bị bài giảng, trình chiếu hình ảnh, video minh họa, tạo ra các hoạt động tương tác và khuyến khích học sinh sáng tạo trong thủ công lớp 3. Đồng thời, CNTT còn giúp học sinh tiếp cận với nguồn tài liệu phong phú, đa dạng và phát triển tư duy sáng tạo qua môn thủ công lớp 3.

6.1. Lợi ích của việc ứng dụng CNTT trong môn Thủ công

CNTT giúp bài giảng trở nên sinh động, hấp dẫn hơn, thu hút sự chú ý của học sinh. Đồng thời, CNTT còn giúp giáo viên tiết kiệm thời gian, công sức trong việc chuẩn bị bài giảng và đánh giá sự sáng tạo trong thủ công lớp 3.

6.2. Các công cụ và phần mềm hỗ trợ dạy học Thủ công

Ví dụ: Phần mềm thiết kế đồ họa (Paint, Photoshop), phần mềm trình chiếu (PowerPoint), video hướng dẫn làm đồ thủ công trên YouTube, các trang web chia sẻ ý tưởng sáng tạo...

6.3. Ví dụ minh họa về ứng dụng CNTT trong bài giảng

Ví dụ, giáo viên có thể sử dụng PowerPoint để trình chiếu các bước làm một sản phẩm thủ công, sử dụng video để minh họa kỹ thuật gấp giấy, cắt dán hoặc sử dụng các trang web để giới thiệu các sản phẩm thủ công sáng tạo của học sinh trên thế giới.

05/06/2025
Luận văn một số biện pháp phát huy tính sáng tạo cho học sinh trong dạy học môn thủ công lớp 3

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu, diễn biến, kết thúc) và sản phẩm tạo ra mang tính mới mẻ, độc đáo. Bản chất của quá trình sáng tạo là quá trình con ngƣời xây dựng, kiểm nghiệm giả thuyết để cho ra sản phẩm. +Dƣới góc độ nhân cách: Theo nhà tâm lý học ngƣời Đức Pippig: “Tính sáng tạo là thuộc về nhân cách đặc biệt, thể hiện khi con ngƣời đứng trƣớc hoàn cảnh có vấn đề. Thuộc tính nhân cách này là tổ hợp các phẩm chất tâm lý, mà nhờ đó con ngƣời trên cơ sở kinh nghiệm của mình, bằng tƣ duy độc lập tự tạo ra những ý tƣởng mới, độc đáo, hợp lý trên bình diện cá nhân hay xã hội.” Nhƣ vậy để có sản phẩm sáng tạo cần có sự tổng hợp các thuộc tính tâm lý của nhân cách bao gồm phẩm chất và năng lực.

Nhờ có phẩm chất và năng lực, các giải pháp mới tối lợi để giải quyết các vấn đề đƣợc xuất hiện, giúp cá nhân tạo ra sản phẩm sáng tạo. Urban: “Tính sáng tạo của con ngƣời là thuộc tính nhân cách bộc lộ trong sản phẩm hoạt động mới mẻ, độc đáo, tối lợi, gây ngạc nhiên cho bản thân và cũng mới mẻ gây ngạc nhiên cho ngƣời khác.” + Dƣới góc độ sản phẩm: Theo tác giả Ghiselin: “Sản phẩm sáng tạo là cấu dạng mới nhất của thế giới kinh nghiệm, đƣợc tạo nên bằng sự cấu trúc lại của những kinh nghiệm đã có trƣớc đó, thể hiện rõ nhất sự nhận thức của chủ thể sáng tạo về thế giới và bản thân cũng nhƣ quan hệ giữa anh ta và thế giới ấy.” Một trong những tiêu chí để đánh giá một cá nhân sáng tạo là sản phẩm của hoạt động cá nhân. Một sản phẩm đƣợc coi là sáng tạo khi nó mới, độc đáo và có giá trị. Hạn chế của tác giả này là chỉ bàn đến sản phẩm sáng tạo ở dạng vật chất.

Khắc phục hạn chế đó, tác giả Guilford đã khẳng định: “Sản phẩm sáng tạo bao gồm sản phẩm sáng tạo cụ thể có thể cảm nhận đƣợc và sản phẩm tồn tại dƣới dạng tƣ duy - ý tƣởng. Nhƣ vậy, mỗi cách tiếp cận vấn đề sáng tạo đều có khái niệm khác nhau. Tuy nhiên trong tâm lý học thì định nghĩa sáng tạo dƣới góc độ nhân cách đƣợc sử dụng nhiều hơn cả, bởi lẽ nó phản ánh đƣợc bản chất của sự sáng tạo, trong đó sáng tạo đƣợc tiếp cận trên nhiều bình diện khác nhau và đƣợc khẳng định nhƣ một tiềm năng vốn tồn tại ở mọi ngƣời, mọi lứa tuổi. Vậy sáng tạo là những giá trị về vật chất và tinh thần do con người tạo ra, dựa trên quy luật khách quan của thực tiễn nhằm biến đổi tự nhiên, xã hội phù hợp với mục đích và nhu cầu của con người.

Nó đặc trưng bởi tính không lặp lại, tính độc đáo và duy nhất. 7 b) Các tiêu chí và cấp độ của sáng tạo - Dựa trên giá trị sản phẩm + Cấp độ 1: Những sản phẩm có giá trị một cách khách quan: Sản phẩm đƣợc tạo ra mang giá trị độc đáo là có ý nghĩa xã hội, thực sự khách quan nghĩa là những sản phẩm này có thể là những phát minh, sáng kiến, khuynh hƣớng hoặc là những sản phẩm, ý tƣởng mà trƣớc kia chƣa từng có. + Cấp độ 2: Những sản phẩm có giá trị chủ quan: Đặc điểm nổi bật của cấp độ này là những sản phẩm tạo ra chuẩn có giá trị xã hội hay ý nghĩa xã hội. Các sản phẩm sáng tạo có đƣợc của học sinh đều luôn có giá trị với chính bản thân chúng.

Vì vậy, nếu những sản phẩm sáng tạo đó đƣợc đánh giá một cách đúng mức thì sẽ có tác dụng khích lệ, động viên, kích thích trẻ tạo ra cái mới. Nói cách khác, hai cấp độ sáng tạo có thể liên hệ chặt chẽ với nhau và sự phân chia cũng chỉ mang tính chất tƣơng đối. - Dựa trên tính chất của sản phẩm sáng tạo Có thể chia sáng tạo thành 5 cấp độ, bao gồm: + Sáng tạo biểu hiện: Đây là dạng cơ bản nhất của sáng tạo, không đòi hỏi tính độc đáo hay kĩ năng quan trọng nào. Đặc trƣng là tính bộc phát “hứng khởi” và sự tự do khoáng đạt.

Theo Irving Taylor, đây là bậc quan trọng nhất của sáng tạo, vì nếu không có nó thì sẽ không có sáng tạo nào cao hơn. + Sáng tạo chế tạo: Là bậc cao hơn của sáng tạo biểu hiện, đòi hỏi có kĩ năng nhất định để thể hiện rõ ràng, chính xác các ý kiến của cá nhân. Tính tự do, hứng khởi bộc phát nhƣờng chỗ cho các quy tắc trong khi thể hiện cái tôi của ngƣời sáng tạo. + Sáng tạo phát kiến: Là sự phát hiện, tìm ra do “nhìn thấy” các quan hệ mới giữa các thông tin trƣớc đây.

Đây là cấp độ chế biến lại các thông tin cũ, sắp xếp lại chúng để đi đến các quan hệ mới và đó chính là sự xuất hiện sáng kiến hay phát kiến. + Sáng tạo cải tiến: Là bậc sáng tạo cao, thể hiện sự am hiểu sâu sắc các kiến thức khoa học, kĩ thuât, nghệ thuật, đòi hỏi một sự thông tuệ nhất định. Từ đó xây dựng đƣợc các ý tƣởng cải tạo, cải cách có ý nghĩa xã hội, văn hóa, khoa học – kĩ thuật. + Sáng tạo trí tuệ đặc biệt: Đây là bậc sáng tạo cao nhất, là những ý tƣởng làm nảy sinh ngành mới, nghề mới, trƣờng phát mới,vƣợt qua cả trí tuệ đƣơng thời.

Đại diện cho những ngƣời ở cấp bậc này đó là Einstein trong Vật lí học, Picasso trong lĩnh vực Hội họa và nhiều sản phẩm sáng tạo khác mang một giá trị trí tuệ đặc biệt của một cá nhân hay nhóm có đẳng cấp cao trên phƣơng diện ý nghĩa xã hội. 8 Nhƣ vậy, mặc dù nhìn từ góc độ truyền thống văn hóa xã hội, tính sáng tạo ở cấp độ cá nhân là tiền đề của tính sáng tạo xã hội, cấp độ sáng tạo mà cái mới do nó tạo ra dẫn đến sự phát triển của một nền văn hóa. Trong quan niệm này thì giáo dục tính sáng tạo ở cấp độ cá nhân là con đƣờng, điều kiện tất yếu để dẫn đến tính sáng tạo cấp độ xã hội. Tiềm năng sáng tạo có trong mỗi cá nhân và đƣợc huy động trong từng hoàn cảnh cụ thể.

Đƣợc gọi là sự sáng tạo cá nhân khi cái mới nằm trong thế giới kinh nghiệm của một ngƣời và sáng tạo xã hội khi cái mới liên quan đến một nền văn hóa. Sáng tạo cá nhân có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của nhân cách cụ thể và là tiền đề của sáng tạo xã hội, là điều kiện không thể thiếu cho sự phát triển của xã hội, của một nền văn hóa.2 Năng lực tư duy sáng tạo a) Khái niệm Tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằng: “Năng lực sáng tạo là khả năng tạo ra những cái mới hoặc giải quyết vấn đề một cách mới mẻ của con ngƣời”. Còn theo tác giả Hồ Bá Thâm có quan niệm ngắn gọn hơn: “Năng lực sáng tạo là năng lực tạo ra cái mới về chất hợp quy luật”. Theo Tôn Thân quan niệm: “Tƣ duy sáng tạo là một dạng tƣ duy độc lập tạo ra ý tƣởng mới, độc đáo và có hiệu quả giải quyết vấn đề cao”.

Nhà tâm lí học ngƣời Đức Mehlhow cho rằng: “Tƣ duy sáng tạo là hạt nhân của sự sáng tạo cá nhân, đồng thời là mục tiêu cơ bản của giáo dục”. Tƣ duy sáng tạo theo ông đƣợc đặc trƣng bởi mức độ cao của chất lƣợng, hoạt động trí tuệ nhƣ tính mềm dẻo, tính chính xác, tính nhạy cảm, tính kế hoạch. DanTon cho rằng: “Tƣ duy sáng tạo đó là những năng lực tìm thấy những ý nghĩa mới, tìm thấy những mối quan hệ, là một chức năng của kiến thức, trí tƣởng tƣợng và sự đánh giá, là một quá trình, một cách dạy và học bao gồm những chuỗi phiêu lƣu, chứa đựng những điều nhƣ: sự khám phá, sự phát sinh, sự đổi mới, trí tƣởng tƣợng, sự thí nghiệm, sự thám hiểm”. Quá trình sáng tạo của con ngƣời thƣờng đƣợc bắt đầu từ một ý tƣởng mới, V.

Cruxtexki đã thể hiện những mối quan hệ giữa tƣ duy sáng tạo, tƣ duy tích cực và tƣ duy độc lập dƣới các vòng tròn đồng tâm nhƣ sau: 9 Có thể hiểu rằng, tƣ duy sáng tạo là sự kết hợp cao nhất, hoàn thiện nhất của tƣ duy độc lập và tƣ duy tích cực. Tạo ra những cái mới có tính giải quyết vấn đề một cách hiệu quả, chất lƣợng. Tƣ duy sáng tạo là tƣ duy độc lập vì nó không bị gò bó, phụ thuộc vào những cái đã có. Tính độc lập của nó bộc lộ vừa trong việc đặt mục đích, vừa trong việc tìm giải pháp.

Mỗi sản phẩm của tƣ duy sáng tạo đều mang đậm dấu ấn của mỗi cá nhân đã tạo ra nó. b) Các thành phần của tư duy sáng tạo Qua quá trình nghiên cứu của các nhà tâm lí học, giáo dục học…thì tƣ duy sáng tạo có 5 thành phần nhƣ sau: - Tính mềm dẻo: Đây là khả năng di chuyển dễ dàng từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác, từ góc độ khái niệm này sang góc độ khái niệm khác; vận dụng linh hoạt các hoạt động tổng hợp, phân tích, khái quát hóa, trừu tƣợng hóa, cụ thể hóa và các phƣơng pháp suy luận nhƣ quy nạp, suy diễn, tƣơng tự, dễ dàng chuyển từ giải pháp này sang giải pháp khác, điều chỉnh kịp thời suy nghĩ khi gặp trở ngại. Năng lực thay đổi dễ dàng, nhanh chóng trật tự của hệ thống tri thức, chuyển từ góc độ khái niệm này sang góc độ khái niệm khác; định nghĩa lại sự vật, hiện tƣợng, gạt bỏ sơ đồ tƣ duy có sẵn và xây dựng phƣơng pháp tƣ duy mới, tạo ra sự vật mới trong những quan hệ mới hoặc chuyển đổi quan hệ và nhận ra bản chất của sự vật, điều phán đoán. Không rập khuôn, không áp dụng máy móc các kiến thức, kĩ năng đã có sẵn vào hoàn cảnh mới, điều kiện mới, trong đó có những yếu tố đã thay đổi, có khả năng thoát khỏi ảnh hƣởng kìm hãm của những kinh nghiệm, những phƣơng pháp, những cách suy nghĩ đã có từ trƣớc.

Đó là nhận ra vấn đề mới trong điều kiện quen thuộc, thấy đƣợc chức năng mới của đối tƣợng quen biết. - Tính nhuần nhuyễn: 10 Đƣợc thể hiện ở năng lực có thể tạo ra một cách nhanh chóng sự tập hợp các yếu tố riêng lẻ của các tình huống, hoàn cảnh, đƣa ra giả thuyết mới. Đƣợc đặc trƣng bởi khả năng tạo ra một số lƣợng nhất định các ý tƣởng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Phát Huy Tính Sáng Tạo Trong Dạy Học Môn Thủ Công Lớp 3" tập trung vào việc khuyến khích sự sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập môn thủ công. Tác giả trình bày các phương pháp và kỹ thuật dạy học nhằm phát triển khả năng tư duy sáng tạo, giúp học sinh không chỉ tiếp thu kiến thức mà còn áp dụng vào thực tiễn. Những lợi ích mà tài liệu mang lại bao gồm việc nâng cao sự hứng thú học tập, phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề và khả năng làm việc nhóm cho học sinh.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp dạy học sáng tạo, bạn có thể tham khảo tài liệu "Luận văn thạc sĩ giáo dục học tổ chức các dự án học tập trong dạy học môn tự nhiên và xã hội lớp 3", nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc áp dụng dự án học tập trong giảng dạy. Ngoài ra, tài liệu "Luận văn vận dụng quan điểm giao tiếp vào dạy học ngữ pháp ở bậc trung học phổ thông" cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về việc tích hợp giao tiếp trong dạy học, một yếu tố quan trọng trong việc phát huy tính sáng tạo. Cuối cùng, tài liệu "Luận văn thạc sĩ giáo dục học bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trong dạy học chương động lực học chất điểm vật lí 10" sẽ cung cấp thêm thông tin về việc phát triển năng lực tự học, một kỹ năng thiết yếu trong quá trình học tập hiện đại.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn mở rộng kiến thức mà còn cung cấp những góc nhìn đa dạng về các phương pháp dạy học sáng tạo.