Chương 1: Những vấn đề lý luận về phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong quản lý nhà nước Chương 2: Vương triều Trần và việc thực hiện chính sách trọng dân, thân dân trong trị quốc và điều hành chính sự Chương 3: Những bài học kinh nghiệm của triều Trần và giá trị tham khảo về phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong quản lý nhà nước ở Việt Nam hiện nay 7 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT HUY QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC 1. Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý nhà nước Quản lý là hoạt động gắn liền với tổ chức xã hội, ngay từ hình thái xã hội sơ khai nhất của loài người, nhu cầu về quản lý và được quản lý đã xuất hiện. Trong quá trình tồn tại và phát triển con người phải thực hiện nhiều công việc mà bản thân sức lực một người hoặc một vài người không thể thực hiện được như săn bắn thú lớn, chống lại kẻ thù, thiên tai, từ đó xuất hiện nhu cầu phải có sự quản lý để thống nhất hành động, phối hợp chặt chẽ giữa các cá nhân, tập hợp sức mạnh lớn nhất của cộng đồng, các tù trưởng, tộc trưởng, người đứng đầu gia đình có thể nói là những nhà quản lý đầu tiên trong xã hội.
Cùng với sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất, quá trình phân công lao động bắt đầu diễn ra, tính chuyên môn hóa trong sản xuất, trao đổi và lưu thông hàng hóa càng đòi hỏi sự quản lý tập trung và hiệu quả đến từng ngành nghề, từng lĩnh vực, con người cần có sự quản lý để thực hiện những công việc có tính phức tạp hơn với trình độ cao hơn. Quản lý là hoạt động có chủ đích, có định hướng của chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý để thực hiện một mục tiêu nhất định. Quản lý xuất hiện cùng với tổ chức, có tổ chức là phải có sự quản lý nhằm hướng mọi nỗ lực, cố gắng của các thành viên trong tổ chức thực hiện mục tiêu chung. Các yếu tố trong quản lý bao gồm: - Chủ thể quản lý: Là tác nhân tạo ra các tác động quản lý.
Chủ thể có thể là cá nhân hoặc tổ chức. - Khách thể quản lý: Là các quy luật, quá trình, hành vi chịu sự điều chỉnh của chủ thể quản lý 8 - Đối tượng quản lý: Là nhân tố tiếp nhận sự tác động của chủ thể quản lý. Tùy theo đặc điểm, tính chất của mỗi đối tượng quản lý khác nhau, có thể chia thành các dạng quản lý khác nhau - Mục tiêu quản lý: Là cái đích cần phải đạt tới tại một thời điểm nhất định do chủ thể quản lý quyết định. Nhà nước là tổ chức quyền lực chính trị của xã hội có giai cấp, có lãnh thổ, dân cư và chính quyền độc lập có khả năng đặt ra và thực thi pháp luật, chính sách nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội.
Như vậy về mặt bản chất nhà nước ra đời để thực hiện chức năng quản lý xã hội, quản lý một quốc gia, để thực hiện chức năng này nhà nước nắm trong tay quyền lực chính trị đặc biệt đó là quyền lực nhà nước, quyền lực nhà nước có địa vị cao nhất, bao trùm lên toàn bộ lãnh thổ, chi phối tác động đến mọi mặt của đời sống, không ai, không tổ chức nào đứng trên quyền lực nhà nước. Quản lý nhà nước là một dạng quản lý đặc biệt do nhà nước thực hiện, sử dụng quyền lực nhà nước tác động lên mọi mặt của đời sống xã hội với mục tiêu duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. Quản lý nhà nước mang tính quyền lực nhà nước, do bộ máy nhà nước thực hiện thông qua việc ban hành chính sách và pháp luật, quản lý nhà nước có phạm vi tác động trên toàn bộ lãnh thổ của một quốc gia. Dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân Dân chủ là một phạm trù lịch sử xuất hiện cùng với sự xuất hiện của xã hội loài người, trong xã hội cộng sản nguyên thủy, hình thái xã hội đầu tiên của nhân loại, “dân chủ” xuất hiện với việc mọi thành viên trong cộng đồng đều có quyền lợi bình đẳng như nhau đối với của cải, vật chất, được phân chia đồng đều các chiến lợi phẩm từ săn bắn, hái lượm, thủ lĩnh của bộ lạc, thị tộc là những người được tất cả tôn kính và bầu lên, với ý nghĩa nguyên thủy đó, “dân chủ” trở thành một phương thức tồn tại, một nguyên tắc sống của xã hội 9 cộng sản nguyên thủy.
Mỗi cá nhân được bình đẳng về quyền lợi, được đối xử như nhau không có sự phân chia, không có đặc quyền, đặc lợi, quyền lực thuộc về mọi người. Cùng với sự phát triển của trình độ sản xuất, xã hội bắt đầu có sự phân chia giai cấp và hình thành nên hình thái nhà nước đầu tiên – nhà nước chiếm hữu nô lệ, quyền lực công, quyền lực chung của cộng đồng lúc này bị tha hóa và nằm trong tay giai cấp thống trị, “dân chủ” trên phạm vi toàn xã hội biến mất, bất bình đẳng xã hội xuất hiện, trải qua nhiều giai đoạn phát triển của lịch sử, với các hình thức nhà nước khác nhau, nhân dân tiếp tục đấu tranh giành lấy quyền dân chủ. Về mặt học thuật, lần đầu tiên dân chủ được nhắc đến như một thuật ngữ chính trị và được biểu hiện dưới một chế độ chính trị là thời Hy Lạp cổ đại tại thành bang Athens, “dân chủ” tiếng anh là Democratic xuất phát từ tiếng Hy Lạp tức “là quyền lực nhân dân”, được thể hiện qua mô hình dân chủ Athens với việc nhân dân tham gia biểu quyết các vấn đề của nhà nước, các quyết đinh đưa ra trên cơ sở số đông. “ Sau khi vua Alcemaeon bang hà vào năm 753 trước Thiên chứa giáng sinh (TCN), Athens được tổ chức theo dân chủ nghị viện: công dân được quyền nghị viện, nhưng chức vụ thẩm phán vẫn dành cho quý tộc.
Đến thế kỷ thứ V(TCN), Athens hoàn toàn theo thể chế dân chủ trực tiếp. Mọi công dân đều trực tiếp tham gia việc nước: nghị luận, bàn cãi, bầu bán, biểu quyết,v.v…Do đó, Athens được coi là nơi có chế độ dân chủ đầu tiên, nơi mà mọi người dân đều được tham gia chính sự. Như vậy trong thời kỳ Hy Lạp cổ đại lần đầu tiên “dân chủ” xuất hiện với tư cách là một chế độ chính trị mà ở đó mọi công dân có quyền tham gia bàn bạc, biểu quyết và quyết định các công việc của nhà nước, tuy nhiên dân chủ ở đây còn bị hạn chế về đối tượng khi mà phụ nữ và nô lệ không được thực hiện quyền biểu quyết và bàn bạc. 10 Ở phương Đông, Nho giáo nguyên thủy sớm đưa ra tư tưởng : “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (Dân là quý nhất, rồi đến đất nước, cuối cùng mới là vua), đây là tư tưởng rất gần gũi với tư tưởng dân chủ, coi trọng vai trò, vị trí của nhân dân, đưa nhân dân vào vị trí trung tâm của quyền lực chính trị.
Tuy nhiên, tư tưởng này dần dần bị tha hóa, biến đổi để phù hợp với quyền lợi của giai cấp thống trị. Theo Từ điển Tiếng Anh Oxford, “dân chủ” cũng để chỉ một hình thức nhà nước, trong đó mọi thành viên đều tham gia vào việc ra quyết định về các vấn đề của mình, thường bằng cách bỏ phiếu để bầu người đại diện trong quốc hội hoặc thể chế tương tự. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm Thường thức Chính trị (1953) “dân chủ tức là dân là chủ”, người chỉ rõ “Ở nước ta chính quyền là của nhân dân, do nhân dân làm chủ. Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền.
Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy. Thế là dân chủ”. Như vậy thông qua quan điểm rất ngắn gọn về dân chủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên hai nội dung quan trọng của “dân chủ”, thứ nhất dân chủ tồn tại với tư cách là quyền của nhân dân, quyền được làm chủ chính quyền, làm chủ nhà nước, làm chủ chế độ, quyền lựa chọn, xây dựng nên cơ quan dân cử. Thứ hai, dân chủ là một chế độ chính trị, một hình thức nhà nước khi có sự tham gia của tất cả quần chúng nhân dân trong việc xây dựng, điều hành hoạt động của nhà nước, nhà nước đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân.
Giữa “dân chủ” và “quyền làm chủ của nhân dân” có nhiều nội dung tương đồng thậm chí được sử dụng thay thế cho nhau, song về mặt nội hàm cần làm rõ ý nghĩa của khái niệm “ quyền làm chủ của nhân dân” từ đó có cách sử dụng chuẩn xác. Dân chủ là một khái niệm rất rộng, vừa để chỉ một quyền của công dân, vừa chỉ một thể chế chính trị, vừa mang ý nghĩa xã hội, văn hóa, dân 11 chủ trong đời sống chính trị, dân chủ trong đời sống kinh tế, văn hóa xã hội. “Quyền làm chủ của nhân dân” là một khái niệm rất cụ thể, nội hàm rất rõ ràng, quyền làm chủ là làm chủ chính quyền nhà nước, quyền tham gia vào các công việc của nhà nước, quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước, nhân dân làm chủ vận mệnh của bản thân, làm chủ vận mệnh của đất nước. “Quyền làm chủ của nhân dân” là một khái niệm gắn liền với sự ra đời của nhà nước dân chủ nhân dân và sau này là nhà nước xã hội chủ nghĩa, trong thời kỳ phong kiến và thực dân đế quốc, nhân dân ta không có quyền làm chủ, số phận, địa vị chính trị của nhân dân là con số không, nhân dân chịu sự áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến, nhân dân không có quyền lực chính trị, chịu kiếp sống nô lệ, quyền lực nhà nước, chính quyền nhà nước lúc này là chính quyền của giai cấp thống trị, chính quyền của số ít.
Khi nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời, nhân dân thực sự có quyền làm chủ, trực tiếp xây dựng nên chính quyền các cấp, bầu ra đại biểu đại diện cho quyền và lợi ích của chính mình, nhà nước là nhà nước của dân, do dân và vì dân.