Chương 1 TƯ TƯỞNG THÂN DÂN CỦA NGUYỄN TRÃI 1. Lý luận chung về tư tưởng thân dân Trong lịch sử tư tưởng phương Đông, tư tưởng thân dân xuất hiện từ rất sớm. Không phải đến Khổng Tử tư tưởng thân dân mới được bàn tới, mà vấn đề đã được đặt ra từ thời Nghiêu – Thuấn cách đó hàng nghìn năm lịch sử. Nhưng chỉ đến khi Khổng Tử sáng lập ra học thuyết Nho giáo vào thời Xuân Thu - Chiến Quốc thì từ đó tư tưởng thân dân mới thực sự trở thành một hệ thống và được các thế hệ học trò của ông bổ sung đầy đủ thêm.
Trong học thuyết Nho giáo, đặc biệt là trong Nho giáo nguyên thủy, khái niệm dân được đề cập tới rất nhiều dưới những tên gọi khác nhau. Đó có thể là “tiểu nhân”, là “bá tính”, “thiên hạ”, hay “nhân dân” như cách gọi của Mạnh Tử. Nhưng cho dù được gọi bằng những tên gì đi nữa thì các nhà sáng lập Nho giáo luôn nhìn thấy ở nhân dân một vai trò rất lớn đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội. Trên cơ sở của việc chỉ ra vai trò, sức mạnh của nhân dân, các nhà tư tưởng đã đưa ra tư tưởng “dân vi bang bản” và đòi hỏi những người cai trị phải thực hiện đường lối thân dân.
Thân dân là từ ngữ của kẻ cầm quyền, của người cai trị. Cho nên nói đến tư tưởng thân dân là nói đến thái độ, cách cư xử của người cầm quyền đối với dân; đó là sự thương yêu, gần gũi, tiếp cận dân, là sự đùm bọc, chăm lo tới đời sống của dân. Nó không chỉ đơn thuần là tình cảm, là thái độ của người cầm quyền đối với dân mà nó còn được biểu hiện ra thông qua hành động, việc làm của chính quyền nhằm mưu cầu cuộc sống tốt đẹp cho nhân dân. Quan hệ đó tốt hay xấu là tùy thuộc vào thái độ, cách cư xử sự của người cầm quyền.
14 Trong sách Đại học của Nho giáo, “thân dân” cũng là một nội dung để dạy người ta phép tu tề, học cách làm quan: “Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại thân dân, tại chỉ ư chí thiện” [13, tr. Khi bàn về khái niệm “thân dân” Phan Bội Châu cho rằng từ Tống Nho trở về sau nhiều người đổi chữ “thân” thành chữ “tân” tức là “tân dân” – làm cho dân đổi mới. Nhưng các nhà nho đời nay thì dùng chữ “thân dân” đúng hơn [11, tr. Quả thực, nếu chúng ta sử dụng khái niệm “tân dân” thì sẽ làm cho nó có phần hiện đại hóa tư tưởng của Nho giáo Khổng - Mạnh.
Tuy nhiên, ranh giới để phân định hai khái niệm này cũng không phải là tuyệt đối bởi chúng có mối quan hệ tương tác với nhau. Chẳng hạn, giáo hóa dân là một trong những nội dung của tư tưởng thân dân, nhưng chính giáo hóa dân cũng sẽ làm cho dân đi tới thay đổi theo hướng tích cực. Cũng về khái niệm thân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Thân dân tức là phục vụ nhân dân, đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết” [52, tr. Như vậy, việc phân biệt hai khái niệm này chỉ mang tính tương đối mà thôi.
Cho nên trong phần trình bày tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi dưới đây, chúng tôi sẽ sử dụng khái niệm “thân dân” để bám sát tinh thần của Nho giáo hơn. Những tiền đề hình thành tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi 1. Tiền đề chính trị - xã hội 1. Khái quát thân thế, sự nghiệp của Nguyễn Trãi Nguyễn Trãi (1380 – 1442) hiệu là Ức Trai, con Thái học sinh Nguyễn Phi Khanh và bà Trần Thị Thái, cháu ngoại của quan Tư đồ Trần Nguyên Đán.
Tổ tiên của Nguyễn Trãi ở xã Chi Ngại, huyện Phượng Sơn, trấn Kinh Bắc (nay là xã Cộng Hòa, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương), sau chuyển về làng Ngọc Ổi, huyện Thượng Phúc, Hà Đông (nay thuộc xã Nhị Khê, huyện Thượng Tín, Hà Nội). Thân phụ Nguyễn Trãi tuy đỗ bảng nhãn vào năm 1374 nhưng do Thượng hoàng Trần Nghệ Tông cho là con nhà thường dân mà lại lấy con gái họ tôn thất nên không bổ ông ra làm quan. Chính vì vậy, ông không ra làm quan cho nhà 15 Trần mà trở về quê ở làng Nhị Khê mở trường dạy học. Trong thời gian Nguyễn Phi Khanh (lúc này là Nguyễn Ứng Long) dạy học ở Nhị Khê, Nguyễn Trãi sống cùng mẹ tại tư dinh của ông ngoại Trần Nguyên Đán.
Năm 1385, Trần Nguyên Đán cáo quan về sống tại động Thanh Hư trên núi Côn Sơn. Lúc này Nguyễn Trãi mới lên năm tuổi cũng theo mẹ và ông ngoại về sống tại Côn Sơn. Ít lâu sau, bà Trần Thị Thái mất và đến năm 1390 Trần Nguyên Đán cũng qua đời. Lúc này Nguyễn Trãi trở về làng Nhị Khê sống cùng cha.
Khi Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần, Nguyễn Ứng Long đã đổi tên là Nguyễn Phi Khanh và ra nhận chức Đại lý tự khanh Thị lang tòa Trung thư, Hàn lâm viện học sĩ, kiêm lĩnh chức Tư nghiệp Quốc tử giám. Cũng trong năm này, Nguyễn Trãi tham gia vào khoa thi đầu tiên của nhà Hồ và đỗ Thái học sinh (1400). Sau khi thi đỗ, Nguyễn Trãi được Hồ Quý Ly mời ra giữ chức Ngự sử đài chánh chưởng. Giữa lúc cha con Nguyễn Trãi đang giúp Hồ Quý Ly thực hiện các cải cách về kinh tế, chính trị và văn hóa nhằm đưa xã hội Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng thì cuối năm 1406 nhà Minh tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược nước ta.
Sau sáu tháng chống cự, cuộc kháng chiến của triều Hồ bị thất bại hoàn toàn. Cha con Hồ Quý Ly và các triều thần bị bắt đưa về Trung Quốc, trong số đó có Nguyễn Phi Khanh. Nghe tin cha bị giặc bắt và áp giải về Trung Quốc, Nguyễn Trãi cùng em trai là Nguyễn Phi Hùng tìm đến nơi giam giữ tù binh của quân Minh để tìm cha. Sau đó cả hai anh em Nguyễn Trãi theo đoàn xe tù lên ải Nam Quan để sang Bắc quốc hầu hạ cha trong lúc bị cầm tù.
Tại đây, Nguyễn Phi Khanh đã bảo với Nguyễn Trãi rằng: “Con là người có học, có tài, nên tìm cách rửa nhục cho nước, trả thù cho cha. Như thế mới là đại hiếu. Lọ là cứ phải theo cha khóc lóc như đàn bà mới là hiếu hay sao?” [86, tr. 16 Nghe lời dạy của cha, Nguyễn Trãi đã gạt nước mắt từ biệt cha ở ải Nam Quan để quay về tìm đường rửa nhục nước, báo thù nhà theo lời giáo huấn của cha.
Trên đường trở về Nguyễn Trãi bị quân Minh bắt và đem giam lỏng ở thành Đông Quan. Mặc dù bị đe dọa, mua chuộc, ông quyết không chịu ra làm quan cho nhà Minh. Vào khoảng năm 1416 hoặc khoảng năm 1420, Nguyễn Trãi tìm đến với chủ quân Lam Sơn và dâng Bình Ngô sách. Theo Ngô Thế Vinh (nửa đầu thế kỉ thứ 19), viết trong tựa sách Ức Trai di tập thì phương châm cơ bản nêu trong Bình Ngô sách “không nói đến việc đánh thành mà lại khéo nói đến việc đánh vào lòng người” [86, tr.
Tư tưởng chiến lược này chính là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của nghĩa quân Lam Sơn. Trong thời gian kháng chiến, Nguyễn Trãi một mặt giúp Lê Lợi trù hoạch việc quân cơ, mặt khác ông đại diện cho Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn viết thư cho các tướng nhà Minh để mắng nhiếc hoặc khiêu khích, dụ hàng chúng. Trước những lời lẽ đanh thép nhưng luôn trừ cho kẻ thù một con đường thoát của Nguyễn Trãi, hàng loạt các tướng giặc đã đem quân ra hàng như tướng Lưu Thanh trấn thủ thành Tam Giang, các tướng ở thành Nghệ An, Diễn Châu, Thuận Hóa, Tây Đô. Với tài năng và bản lĩnh của mình, Nguyễn Trãi đã cùng với Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn liên tiếp giành được những thắng lợi quan trọng, làm cho thế và lực của quân Minh ngày càng suy kiệt.
Đến ngày 12 tháng 12 năm Đinh Mùi (tức ngày 29 tháng 12 năm 1427) cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống quân Minh xâm lược đi đến thắng lợi hoàn toàn khi Vương Thông đem toàn bộ quân rút về nước. Những năm tham gia trong phong trào của nghĩa quân Lam Sơn là những năm mà tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi được hoàn thiện và thực thi trong hiện thực hoàn chỉnh nhất. Suốt mười năm “nằm gai nếm mật” với nhân dân đã giúp Nguyễn Trãi có cái nhìn thấu đáo về những nỗi khổ nhục của một người 17 dân mất nước và cũng trong khó khăn đó sức mạnh của nhân dân cũng được bộc lộ. Điều này đã giúp Nguyễn Trãi đưa ra đường lối chiến tranh nhân dân lấy nhân nghĩa làm nền tảng.
Vì thế mà cuộc kháng chiến của nhân dân ta ngày càng dành được những thắng lợi quan trọng, và cũng chính sự phát triển của cuộc khởi nghĩa đã tạo điều kiện để Nguyễn Trãi hoàn thiện tư tưởng của mình về vai trò và sức mạnh của nhân dân. Sau khi đất nước giành được độc lập, Nguyễn Trãi được Lê Lợi ban cho quốc tính và được phong tước Quan Phục hầu. Dưới thời Lê Thái Tổ, Nguyễn Trãi giữ chức Lại bộ thượng thư kiêm Nhập nội hành khiển trông coi Viện khu mật, đến đời Lê Thái Tông là Gián nghị đại phu kiêm Tri tam quán sự, chức Hàn lâm viện thừa chỉ kiêm Quốc Tử giám. Với những cương vị mà mình đảm trách, Nguyễn Trãi đã tham gia đề xuất, bàn luận và soạn thảo những vấn đề nhằm mục tiêu quốc thái, dân an.
Tuy nhiên, khi những hoài bão của ông còn đang giang dở thì ông bị chính triều đình mà ông đã dốc toàn tâm, toàn ý để dành và giữ lấy khép cho tội âm mưu giết vua Thái Tông, ngày 16 tháng 8 năm Nhâm Tuất (tức ngày 19 tháng 9 năm 1442), Nguyễn Trãi và gia tộc phải rơi đầu trong vụ án Lệ Chi viên. Đến năm Quang Thuận thứ 5, tức năm 1464 vua Lê Thánh Tông đã xuống chiếu rửa oan cho ông. Nguyễn Trãi được vua Thánh Tông truy phong chức Đặc tiến kim tử Vinh lộc đại phu tước Tán trù bá. Con cháu ông được tìm lại và bổ dụng, riêng người con duy nhất của ông thoát khỏi án tru di là Nguyễn Anh Vũ được bổ làm quan Tri huyện.
Chính cuộc đời đầy bi hùng của Nguyễn Trãi đã tạo cho ông một cái nhìn hoàn toàn khác về nhân dân.