Luận văn thạc sĩ nghiên cứu phát hiện lectin thực vật có khả năng ngưng kết đặc hiệu với một số vi khuẩn gây nhiễm độc thực phẩm phổ biế

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu nghiên cứu phát hiện lectin thực vật có khả năng ngưng kết đặc hiệu với một số vi khuẩn gây nhiễm, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Vi sinh vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2014

158
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. TÌNH HÌNH NGỘ ĐỘC THỰC PHẨM TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tƣợng nghiên cứu

2.2. Dụng cụ - hóa chất – môi trƣờng

2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Nghiên cứu khả năng gây ngƣng kết của lectin lên một số nhóm vi khuẩn gây ngộ độc thực phẩm thƣờng gặp

3.2. Tính đặc hiệu đƣờng của dịch chiết lectin

3.3. Nghiên cứu mối tƣơng tác giữa lectin với một số vi khuẩn gây ngộ độc thực phẩm phân lập đƣợc

3.4. TINH CHẾ VÀ NGHIÊN CỨU ĐẶC TÍNH HÓA SINH MIỄN DỊCH CỦA 2 LECTIN CHỌN LỰA

MỞ ĐẦU

KẾT LUẬN

KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về phát hiện lectin thực vật ngưng kết vi khuẩn thực phẩm

Phát hiện lectin thực vật có khả năng ngưng kết vi khuẩn thực phẩm là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng trong ngành vi sinh vật học. Lectin là các protein có khả năng liên kết với carbohydrate, giúp nhận diện và phân loại các loại vi khuẩn gây bệnh. Việc sử dụng lectin trong phát hiện vi khuẩn không chỉ mang lại hiệu quả cao mà còn tiết kiệm chi phí và thời gian. Nghiên cứu này tập trung vào việc phát hiện các loại lectin có khả năng ngưng kết đặc hiệu với các vi khuẩn gây ngộ độc thực phẩm phổ biến tại Việt Nam.

1.1. Định nghĩa và vai trò của lectin trong vi sinh vật học

Lectin là một loại protein không có chức năng xúc tác nhưng có khả năng liên kết với carbohydrate. Chúng có vai trò quan trọng trong việc nhận diện và phân loại vi khuẩn. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng lectin có thể được sử dụng như một công cụ hiệu quả trong việc phát hiện các vi khuẩn gây bệnh, đặc biệt là trong thực phẩm.

1.2. Tình hình nghiên cứu lectin trong phát hiện vi khuẩn

Nghiên cứu về lectin trong phát hiện vi khuẩn đã được thực hiện trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, nghiên cứu này còn mới mẻ và đang trong giai đoạn đầu. Các lectin từ thực vật như đậu tương và mầm lúa mì đã được chứng minh có khả năng ngưng kết với nhiều loại vi khuẩn gây bệnh, mở ra hướng đi mới trong việc phát hiện vi khuẩn trong thực phẩm.

II. Vấn đề ngộ độc thực phẩm do vi khuẩn tại Việt Nam

Ngộ độc thực phẩm do vi khuẩn là một vấn đề nghiêm trọng tại Việt Nam, với hàng triệu ca mắc mỗi năm. Các vi khuẩn như Salmonella, Shigella, và E. coli là những tác nhân chính gây ra tình trạng này. Việc phát hiện sớm và chính xác các vi khuẩn gây bệnh là rất cần thiết để bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

2.1. Tình hình ngộ độc thực phẩm do vi khuẩn

Theo thống kê, mỗi năm Việt Nam ghi nhận hàng trăm vụ ngộ độc thực phẩm, trong đó vi khuẩn là nguyên nhân chính. Các vi khuẩn như Salmonella và Shigella thường xuất hiện trong thực phẩm không đảm bảo vệ sinh, gây ra các bệnh tiêu chảy và ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng.

2.2. Nguyên nhân và hậu quả của ngộ độc thực phẩm

Nguyên nhân chính dẫn đến ngộ độc thực phẩm là do thực phẩm bị nhiễm vi khuẩn trong quá trình chế biến và bảo quản. Hậu quả của ngộ độc thực phẩm không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn gây thiệt hại kinh tế lớn cho xã hội.

III. Phương pháp phát hiện lectin trong vi khuẩn thực phẩm

Phương pháp sử dụng lectin để phát hiện vi khuẩn thực phẩm đang được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi. Các phương pháp này không chỉ đơn giản mà còn mang lại kết quả chính xác và nhanh chóng. Việc tách chiết và tinh sạch lectin từ thực vật là bước quan trọng trong quy trình phát hiện vi khuẩn.

3.1. Quy trình tách chiết lectin từ thực vật

Quy trình tách chiết lectin bao gồm nhiều bước như thu hoạch, nghiền nát, và sử dụng các phương pháp sắc ký để tinh sạch lectin. Các lectin thu được sẽ được kiểm tra khả năng ngưng kết với các vi khuẩn gây bệnh để đánh giá hiệu quả.

3.2. Phương pháp xác định hoạt độ lectin

Hoạt độ của lectin được xác định thông qua phản ứng ngưng kết hồng cầu. Phương pháp này giúp đánh giá khả năng liên kết của lectin với các carbohydrate trên bề mặt vi khuẩn, từ đó xác định được tính đặc hiệu của lectin.

IV. Ứng dụng thực tiễn của lectin trong phát hiện vi khuẩn

Việc ứng dụng lectin trong phát hiện vi khuẩn không chỉ giúp nâng cao hiệu quả trong việc kiểm tra an toàn thực phẩm mà còn mở ra nhiều cơ hội nghiên cứu mới. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng lectin có thể được sử dụng để phát hiện nhanh chóng và chính xác các vi khuẩn gây bệnh trong thực phẩm.

4.1. Kết quả nghiên cứu ứng dụng lectin

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng lectin từ đậu tương có khả năng ngưng kết với Salmonella và Shigella, cho thấy tiềm năng ứng dụng trong việc phát hiện các vi khuẩn này trong thực phẩm. Kết quả này mở ra hướng đi mới trong việc phát triển các phương pháp phát hiện vi khuẩn hiệu quả hơn.

4.2. Lợi ích của việc sử dụng lectin trong kiểm tra thực phẩm

Sử dụng lectin trong kiểm tra thực phẩm mang lại nhiều lợi ích như giảm thời gian và chi phí, đồng thời nâng cao độ chính xác trong việc phát hiện vi khuẩn. Điều này rất quan trọng trong bối cảnh an toàn thực phẩm ngày càng được chú trọng.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu lectin

Nghiên cứu về lectin trong phát hiện vi khuẩn thực phẩm đang mở ra nhiều triển vọng mới. Với những kết quả khả quan từ các nghiên cứu hiện tại, việc ứng dụng lectin trong kiểm tra an toàn thực phẩm có thể trở thành một xu hướng trong tương lai.

5.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng lectin có khả năng ngưng kết với nhiều loại vi khuẩn gây bệnh, cho thấy tiềm năng ứng dụng lớn trong việc phát hiện vi khuẩn trong thực phẩm. Điều này mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu tiếp theo.

5.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các loại lectin mới từ thực vật, đồng thời cải tiến các phương pháp phát hiện vi khuẩn để nâng cao hiệu quả và độ chính xác trong kiểm tra an toàn thực phẩm.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Thực phẩm an toàn có vai trò quyết định đối với sức khỏe con ngƣời, tới chất lƣợng cuộc sống hiện tại cũng nhƣ phát triển giống nòi. Việc không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP) có thể dẫn đến ngộ độc thực phẩm, nhiễm trùng thực phẩm và bệnh do thực phẩm. Mỗi năm Việt Nam có khoảng 2 triệu ngƣời bị ngộ độc thực phẩm hoặc ngộ độc có liên quan đến thực phẩm, chi phí cho việc giải quyết các vụ ngộ độc ƣớc tính trên 2000 tỷ đồng/năm [2]. Nguyên nhân gây ra ngộ độc thực phẩm thƣờng gặp là do hóa chất, do độc tố, do vi sinh vật …Tuy nhiên nguyên nhân chính gây ngộ độc thực phẩm là do nhiễm vi khuẩn và chủ yếu tập trung vào các vi khuẩn nhƣ: Salmonella, Shigella, Escherichia coli, Staphylococus aureus, Vibrio cholerae, Clostridium perfringens…[40].

Số lƣợng các ca ngộ độc thực phẩm do vi khuẩn vẫn ngày càng tăng, không chỉ ở những nƣớc đang phát triển mà cả các nƣớc có nền kinh tế vững mạnh. Để làm giảm nguy cơ ngộ độc thức ăn cần có nhiều biện pháp đồng bộ từ việc trang bị kiến thức cho những ngƣời liên quan trực tiếp đến thực phẩm, chủ động làm sạch môi trƣờng, thực hiện quy trình vệ sinh đề phòng sự ô nhiễm và đặc biệt là cần thƣờng xuyên kiểm tra phát hiện mức độ ô nhiễm vi khuẩn gây bệnh đối với thực phẩm. Có rất nhiều phƣơng pháp khác nhau để kiểm tra, phát hiện sự có mặt của vi khuẩn trên thực phẩm nhƣ phƣơng pháp nuôi cấy truyền thống, phƣơng pháp sử dụng sinh học phân tử hay phƣơng pháp miễn dịch. Phƣơng pháp sử dụng sinh học phân tử cho kết quả nhanh, chính xác nhƣng lại tốn kém, đòi hỏi trang thiết bị và nguyên vật liệu đồng bộ với chi phí cao trong khi phƣơng pháp truyền thống đòi hỏi thời gian và công sức lớn của kỹ thuật viên và vẫn là phƣơng pháp đƣợc dùng phổ biến tại các phòng thí nghiệm ở Việt Nam [72].

Tuy vậy, phƣơng pháp vẫn gặp phải một số khó khăn khi triển khai tại các phòng thí nghiệm nhỏ. Hƣớng nghiên cứu sử dụng lectin trong phát hiện, phân loại vi khuẩn đang đƣợc quan tâm trong thời gian gần đây. Ƣu 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com điểm của phƣơng pháp này là cho kết quả nhanh, không đắt tiền, độ lặp lại cao, các nguyên liệu trong thí nghiệm bền và dễ bảo quản [45], đặc biệt là có thể triển khai tại các phòng thí nghiệm phân tích nhỏ. Lectin là một protein không có chức năng xúc tác, không có tính chất miễn dịch nhƣng có khả năng liên kết thuận nghịch, phi hóa trị các carbohydrate mà không làm thay đổi cấu trúc của carbohydrate đƣợc liên kết [55].

Bề mặt của tế bào vi khuẩn có nhiều gốc đƣờng có khả năng tƣơng tác với lectin, mang tính đặc hiệu cao. Do vậy, dựa vào mối tƣơng tác lectin – vi khuẩn có thể nhận biết đƣợc nhóm vi khuẩn nào có liên kết đặc hiệu với lectin, từ đó sử dụng lectin để nhận biết đƣợc nhóm này. Đã có nhiều công bố về việc sử dụng lectin để phát hiện một số vi khuẩn, điển hình nhƣ lectin từ đậu tƣơng (SBA) và ốc sên (HPA) để nhận biết Bacillus anthracis – vi khuẩn gây bệnh than – một vi khuẩn rất khó phân biệt với các chủng Bacillus khác, lectin mầm lúa mỳ (WGA) giúp phát hiện vi khuẩn Neisseria…[41]. Lectin đã trở thành một chất thử tiêu chuẩn dùng trong phân loại vi sinh vật học [110].

Thêm vào đó vì lectin có hoạt độ cao nên tác dụng ở những nồng độ rất loãng, có tính đặc hiệu và có thể sử dụng ở dạng dẫn xuất gắn enzym, vàng, các đồng vị phóng xạ hoặc các chất chuẩn. Nguồn lectin đƣợc sử dụng nghiên cứu trong phân loại vi khuẩn thƣờng có nguồn gốc từ thực vật do có nhiều ƣu điểm nhƣ nồng độ lectin cao, đặc hiệu với nhiều loại đƣờng, dễ tách chiết…[56]. Việt Nam là một nƣớc nhiệt đới với nguồn thực vật phong phú. Đây chính là nguồn cung cấp lectin dồi dào mà chƣa đƣợc khám phá.

Trong nƣớc, các lectin thực vật mới đƣợc tập trung nghiên cứu về các đặc tính, quá trình tinh sạch và ứng dụng trong y học. Hƣớng nghiên cứu ứng dụng lectin trong phát hiện vi sinh vật chỉ đƣợc bắt đầu một vài năm trở lại đây. Kết quả bƣớc đầu cho thấy việc xác định các vi khuẩn gây bệnh bằng lectin có độ đặc hiệu cao, ổn định, cho kết quả nhanh, dễ thực hiện và ít tốn kém [20, 21, 22]. Tuy vậy các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc thăm dò khả năng 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngƣng kết của lectin đối với một số loài vi khuẩn.

Tại Việt Nam chƣa có công trình nghiên cứu nào thống kê đầy đủ về mối tƣơng tác đặc hiệu của lectin với các loài vi khuẩn gây bệnh, đặc biệt là vi khuẩn gây bệnh qua thực phẩm. Do tiềm năng ứng dụng lớn của lectin, luận án đƣợc tiến hành với những mục tiêu: 1. Phát hiện, nghiên cứu, tuyển chọn đƣợc các nhóm lectin tƣơng tác đặc hiệu với các nhóm vi khuẩn gây ngộ độc thực phẩm phân lập tại Việt Nam. Tinh chế, xác định đƣợc một số tính chất các lectin có biểu hiện tƣơng tác đặc hiệu với vi khuẩn, bƣớc đầu xây dựng quy trình phát hiện vi khuẩn gây ngộ độc thực phẩm bằng phản ứng ngƣng kết với lectin.

Những đóng góp mới của luận án: 1. Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện về các nhóm lectin thực vật gây ngƣng kết đặc hiệu với một số vi khuẩn gây bệnh qua đƣờng thực phẩm. Bƣớc đầu xây dựng đƣợc quy trình phát hiện và phân biệt 4 vi khuẩn Eschesrichia coli gây bệnh (EPEC), Shigella flexneri, Staphylococcus aureus và Salmonella bằng lectin. Đã đƣa ra đƣợc quy trình tinh chế tách chiết một số lectin có ngƣng kết đặc hiệu với vi khuẩn Eschesrichia coli gây bệnh (EPEC) và vi khuẩn Salmonella.

11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 TÌNH HÌNH NGỘ ĐỘC THỰC PHẨM TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 1. Trên Thế giới Theo ƣớc tính của WHO (2008), hàng năm trên Thế giới có khoảng 130 triệu ngƣời mắc bệnh tiêu chảy, trong đó xấp xỉ 70% là do truyền qua đƣờng ăn uống nhƣ ăn phải thực phẩm bị nhiễm bẩn, hóa chất hay vi sinh vât gây bệnh [108]. Cũng theo WHO, hơn 49 nƣớc đang phát triển trung bình có tỷ lệ chết do tiêu chảy ở trẻ em dƣới 5 tuổi là 6,6%, chiếm 36% ca tử vong do mọi nguyên nhân của trẻ em dƣới 5 tuổi. Ở Mỹ, theo thống kê của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh (CDC) thì mỗi năm có khoảng 5% dân số bị ngộ độc trong năm, với khoảng 5000 ngƣời chết [40].

Tại Pháp, hàng năm có khoảng 75 vạn ca ngộ độc thực phẩm (1210 ca/10 vạn dân) trong đó 7 vạn ca cấp cứu trong tình trạng nguy kịch, 113 nghìn ca phải nhập viện [80]. Tại Thái Lan, Ân Độ, Philipin có khoảng 100 ngƣời vào viện hằng ngày do nguyên nhân sử dụng thực phẩm không an toàn. Theo thống kê ở Philipin thì tiêu chảy là một trong 10 nguyên nhân gây bệnh chính với tổng số 19. Đặc biệt năm 2011, một biến chủng E.

coli cực độc đã gây tình trạng nhiễm khuẩn thực phẩm bùng phát tại Đức và một số nƣớc châu Âu khác với 16 ngƣời chết và hơn 1.000 ngƣời mắc bệnh, trong đó gần 400 ngƣời có nguy cơ tử vong. Theo Trung tâm Kiểm soát và Ngăn ngừa dịch bệnh châu Âu (ECDC), đã có 9 trƣờng hợp đƣợc thông báo ở Thụy Điển, 4 ngƣời trong số đó có đi du lịch tới phía bắc nƣớc Đức. Vụ dịch này đã gây thiệt hại lớn cho ngành nông nghiệp châu Âu khi ECDC thông báo vi khuẩn bị lây nhiễm qua các thực phẩm nhƣ dƣa chuột, cà chua, giá đỗ… 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tại Việt Nam Theo thống kê, mỗi năm Việt Nam có khoảng 250-500 vụ ngộ độc thực phẩm với 3000 - 5000 nạn nhân nhập viện và 30 - 100 ca tử vong [4].

Nhà nƣớc cũng phải dành một kinh phí rất lớn cho việc điều trị, xét nghiệm và điều tra tìm nguyên nhân ngộ độc. Theo cục ATVSTP, năm 2012 số vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra trong toàn quốc có giảm nhẹ so với cuối năm 2010 nhƣng số ngƣời chết và nhập viện có chiều hƣớng tăng cao so với năm 2011 (Bảng 1. Số ngƣời mắc tăng so với năm trƣớc là 54,8%, số ngƣời nhập viện tăng 43,5%, số ngƣời tử vong tăng 53,6%. Số ca mắc ngộ độc thực phẩm tập trung cao nhất ở miền Đông Nam Bộ chiếm 51,91%.

Số tử vong do ngộ độc thực phẩm tập trung nhiều ở các vùng núi phía Bắc chiếm 51,81% [4,107].1 Tình hình ngộ độc thực phẩm tại Việt Nam (nguồn: http://vfa.vn/) Năm 2010 2011 2012 Số vụ ngộ độc 175 148 168 Số ca mắc 5664 4700 5541 Số ca tử vong 51 27 34 Số ca nhập viện 3978 3663 4335 Nguyên nhân hàng đầu trong các vụ ngộ độc thực phẩm là do vi sinh vật. Trong số đó, vi khuẩn chiếm tỉ lệ cao và là nguyên nhân chính gây ra các vụ tiêu chảy hàng loạt (chiếm 33-49%) [2]. Các vi khuẩn gây bệnh thƣờng gặp là Salmonella, Shigella, Staphylococcus aureus, Escherichia coli, Vibrio cholerae… Bệnh thƣờng xảy ra do thực phẩm bị nhiễm vi sinh vật gây bệnh trong quá trình chế biến, bảo quản nhƣ thức ăn nấu chƣa kĩ, để lâu ở nhiệt độ thƣờng, thực hiện khâu vệ sinh kém…[23]. Salmonella là nguyên nhân của 70% vụ ngộ độc do vi khuẩn, có trong nhiều loại thực phẩm (đồ nguội, thịt nguội, nghêu sò, gà chƣa nấu chín, sản phẩm từ sữa sống…) nhất là các món ăn chế biến từ trứng tƣơi hoặc còn hơi tƣơi sống [40].

Độc tố từ vi sinh vật cũng là một trong các nguyên nhân chiếm 20-30% các vụ ngộ độc thực phẩm tập thể. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong số này, vi khuẩn Staphylococcus aureus hiện diện nhiều trong các món ăn làm bằng tay (bánh ngọt), vi khuẩn Clostridium perfringens hay phát sinh trong các món đƣợc nấu, nƣớng và hâm nóng. Ngoài ra, ngộ độc thực phẩm còn có nguyên nhân là do thực phẩm bị ô nhiễm hóa chất (chiếm11-27%) nhƣ cyanua, asen, các kim loại nặng, benladol, hóa chất bảo quản thực phẩm, hóa chất bảo vệ thực vật. 27% số vụ ngộ độc là do ăn phải thực phẩm còn tồn đọng hóa chất hay bị đầu độc qua nƣớc, thức ăn, không khí… 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ