Phần mở đầu, Kết luận, các Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương: Chương | - Một số vấn đề lý luận pháp luật về bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển Chương 2 - Các quy định cơ bản của pháp luật Việt Nam về bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển Chương 3 — Những vấn đề đặt ra đối với pháp luật Việt Nam về bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và phương hướng hoàn thiện. Tôi xin gửi lời cảm ơn đặc biệt sâu sắc tới TS. Nông Quốc Bình, người Thay đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu này. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Khoa Sau đại học, các Thây, các Cô là giang viên cho lớp Cao học Luật khóa XI trường Đại học Luật Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, truyền bá những kiến thức qúy báu sâu rộng giúp tôi có nền tảng khoa học khi thực hiện đề tài này.
CHUONG 1 MOT SỐ VAN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 1. Khái niệm, sự hình thành và phát triển của pháp luật bảo hiểm hàng hoá XNK VCĐB 1. Khái niệm bảo hiểm hàng hoá XNK VCĐB và pháp luật bảo hiểm hàng hoá XNK VCĐB Trên thực tế có rất nhiều khái niệm về bảo hiểm. Tùy thuộc vào quan niệm của từng lĩnh vực như luật, kinh tế học, lịch sử, khoa học thực tế, lý thuyết về rủi ro và xã hội học mà các khái niệm về bảo hiểm có nhiều điểm khác nhau.
Tuy nhiên cũng có một số khái niệm được thừa nhận rộng rãi trên thế giới như: | Theo Ủy ban thuật ngữ bảo hiểm của Hiệp hội bảo hiểm và rủi ro Hoa Kỳ thì “bảo hiểm là việc chuyển giao những rủi ro do các tổn thất bất ngờ và ngẫu nhiên gây ra từ người được bảo hiểm sang cho người bảo hiểm khi họ cam kết bồi thường cho những tổn thất này; cung cấp các quyền lợi bằng tiền khi tổn thất xảy ra hoặc cung cấp các dịch vụ liên quan đến rủi ro cho người được bảo hiểm”. Theo Hiệp hội các nhà bảo hiểm Anh thì “bảo hiểm là sự thỏa thuận trong đó một bên (người bảo hiểm) hứa sẽ thanh toán cho bên kia (người được bảo hiểm hay người tham gia bảo hiểm) một khoản tiền nếu sự cố xảy ra gây tổn thất tài chính cho người được bảo hiểm. Trách nhiệm thanh toán những tổn thất này được chuyển giao từ người được bảo hiểm sang người bảo hiểm. Để chấp nhận trách nhiệm thanh toán này, người bảo hiểm đòi người được bảo hiểm một khoản tiền là phí bảo hiểm”.
Trên đây là những khái niệm thông dụng nhất trên thế giới về bảo hiểm. Ở Việt Nam, pháp luật Việt Nam không trực tiếp đưa ra định nghĩa về “bảo hiểm” mà LKDBH 2000 chỉ dé cập đến khái niệm “kinh doanh bảo hiểm”. Theo LKDBH 2000 thì “kinh doanh bảo hiểm” được hiểu là “hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó, doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm” (Điều 3 LKDBH 2000). Hiện nay pháp luật Việt Nam không đưa ra bất kỳ định nghĩa nào về bảo hiểm hàng hóa XNK VCĐB nhưng có thể hiểu khái niệm “bảo hiểm hàng hóa XNK VCĐB' như sau: Bảo hiểm hàng hóa XNK VCĐB là cam kết bồi thường của người bảo hiểm cho người được bảo hiểm trong trường hợp xảy ra rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm đối với hàng hóa chuyên chở trên biển hoặc trên bộ, trên sông liên quan đến hành trình đường biển với điều kiện người được bảo hiểm đóng một khoản phí bảo hiểm.
| Trong định nghĩa về bảo hiểm hàng hóa XNK VCĐB nói trên, cần lưu ý một số khái niệm sau đây: Thứ nhất, người bảo hiểm (the insurer/ underwriter) là người nhận trách nhiệm về rủi ro đối với đối tượng bảo hiểm, được hưởng phí bảo hiểm và phải bồi thường khi có tổn thất xảy ra trong hành trình hàng hải. Người bảo hiểm thường là các công ty bảo hiểm (nhà nước hoặc tư nhân). Nhiều nước đã ban hành các đạo luật quy định về doanh nghiệp bảo hiểm, ví dụ hiện nay ở Anh có Luật công ty bảo hiểm 1982, ở Việt Nam có LKDBH 2000. Thứ hai, người được bảo hiểm (the insured) là tổ chức hoặc cá nhân có lợi ích bảo hiểm (tức là người sẽ bị thiệt hại khi rủi ro xảy ra) và được người bảo hiểm bồi thường.
Người được bảo hiểm thường là người có quyền sở hữu đối với đối tượng bảo hiểm và phải nộp phí bảo hiểm. Thứ ba, đối tượng bảo hiểm (subject matter insured), trong bảo hiểm hàng hóa XNK VCDB, đối tượng bảo hiểm chính là hàng hóa. Theo Điều 3 MIA 1906 thì một trong các đối tượng của hợp đồng bảo hiểm hàng hải là hàng hóa hay các động sản khác ở trong tình thế có thể bị đe dọa bởi rủi ro hàng hải. Tại Phụ lục thứ nhất, mục 17 phần quy tắc giải thích đơn bảo hiểm của MIA 1906 có quy định “hàng hóa” có nghĩa là hàng hóa với tính chất thương mại va không bao gồm đồ đạc cá nhân hay lương thực dự trữ để dùng trên tàu.
Hàng hóa chở trên boong và súc vật không được coi là hàng hóa trừ phi có tập quán trái ngược”. Điều 26 MIA 1906 yêu cầu tên đối tượng bảo hiểm phải được miêu tả trong đơn bảo hiểm một cách rõ ràng và hợp lý. Thứ tư, rủi ro được bảo hiểm (risk insured), trong bảo hiểm hàng hóa VCDB, rủi ro được bảo hiểm là những rủi ro liên quan đến hành trình đường biển được người bảo hiểm và người được bảo hiểm thỏa thuận trong hợp đồng. Về nguyên tắc, người bảo hiểm chỉ bồi thường những thiệt hại do những rủi ro đã thỏa thuận gây ra mà thôi.
Rủi ro trong bảo hiểm hàng hóa VCĐB có nhiều loại. Rui ro bao gồm thiên tai, tai họa của biển, các tai nạn bất ngờ khác, rủi ro do các hiện tượng chính trị, xã hội. Thứ năm, phí bảo hiểm (premium) là khoản tiên mà người được bảo hiểm phải trả cho người bảo hiểm để được bồi thường khi thiệt hại xảy ra đối với hàng hóa được bảo hiểm. Phí bảo hiểm cao hay thấp phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như điều kiện bảo hiểm, tính chất của hàng hóa được bảo hiểm, cách thức đóng gói hàng hóa được bảo hiểm, phương tiện vận tải, thời gian van tải, tuyến đường vận tải hàng hóa được bảo hiểm.
Pháp luật bảo hiểm hàng hóa XNK VCĐB có thể hiểu là tổng hợp những quy phạm điều chỉnh quan hệ giữa người bảo hiểm và người được bảo hiểm liên quan đến hàng hóa XNK VCĐB được người bảo hiểm cam kết bồi thường khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Sự hình thành va phát triển của pháp luật bảo hiểm hang hoá XNK VCDB Trước lợi nhuận mà ngành thương mại hàng hải mang lại cũng như mức độ và số lượng rủi ro phải ứng phó, các chủ tàu, các nhà buôn bán, những người vận tải luôn luôn tìm kiếm những hình thức để bảo đảm an toàn cho quyền lợi của mình. Đầu tiên, vào khoảng thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, người ta đã tìm cách giảm nhẹ tổn thất toàn bộ một lô hàng bằng cách san nhỏ lô hàng của mình ra làm nhiều chuyến hàng. Đây là một cách phân tán rủi ro, tổn thất và có thể coi đó là hình thức sơ khai của bảo hiểm.
Sau đó, để đối phó với những tổn thất nặng nề thì hình thức “cho vay mạo hiểm” đã xuất hiện theo đó, trong trường hợp xảy ra tổn thất đối với hàng hóa trong quá trình vận chuyền, người vay sẽ được miễn không phải trả khoản tiền vay cả vốn và lãi. Ngược lại họ sẽ phải trả một lãi suất rất cao khi hàng hóa đến bến an toàn, như vậy có thể hiểu lãi suất rất cao này là hình thức sơ khai của phí bảo hiểm. Song số vụ tổn thất xảy ra ngày càng nhiều đã làm cho các nhà kinh doanh cho vay vốn cũng lâm vào thế nguy hiểm và hình thức bảo hiểm đã ra đời để thay thế vào đó. Vào thế kỷ XIV ở Floren, Genoa nước Ý đã xuất hiện các hợp đồng bảo hiểm hàng hải đầu tiên mà theo đó một người bảo hiểm cam kết với người được bảo hiểm sẽ bồi thường những thiệt hại về tài sản mà người được bảo hiểm phải gánh chịu khi có thiệt hại xảy ra trên biển, đồng thời với việc nhận một khoản phí.
Hợp đồng bảo hiểm cổ xưa nhất mà người ta tìm thấy có ghi ngày 22/04/1329 hiện còn được lưu giữ tại Floren. Sau đó, cùng với việc phát hiện ra Ấn Độ dương và tìm ra Châu Mỹ, ngành hàng hải nói chung và bảo hiểm hàng hải nói riêng đã phát triển rất nhanh. Về cơ sở pháp lý thì có thể coi chiếu dụ Barcelona 1435 là văn bản pháp luật đầu tiên trong ngành bảo hiểm. Sau đó là sắc lệnh của Philippe de 11 Bourgogne năm 1458, những sắc lệnh của Brugos năm 1537, Fiville năm 1552 và ở Amsterdam năm 1558.
Ngoài ra còn có sắc lệnh của Phần Lan năm 1563 liên quan đến hợp đồng bảo hiểm hàng hóa. Tuy nhiên phải đến thế kỷ XVI — XVII cùng với sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thì hoạt động bảo hiểm mới phát triển rộng rãi và ngày càng di sâu vào nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế — xã hội. Mở đường cho sự phát triển này là Luật 1601 của Anh thời Elizabeth, sau đó là Chỉ dụ 1681 của Pháp do Colbert biên soạn và Vua Louis XIV ban hành, đó là những đạo luật mở đường cho lĩnh vực bảo hiểm hàng hải. Đên thế kỷ XVII, nước Anh đã chiếm vị trí hàng đầu trong buôn bán và hang hải quốc tế với London là trung tâm phén thịnh nhất.
Tàu của các nước di từ chau A, Châu Âu, Châu Mỹ, Chau Phi đều vẻ cập bến hai bờ sông Thames của thành phố London. Các tiệm cà phê là nơi gặp gỡ của các nhà buôn, chủ ngân hàng, người chuyên chở, người bảo hiểm. để giao dịch, trao đổi tin tức, bàn luận trực tiếp với nhau. Nói đến bảo hiểm hàng hóa bang đường biển không thể không nhắc đến Lloyd's.