CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN DỤNG XANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN DỤNG XANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Những vấn đề lý luận về hoạt động cấp tín dụng xanh của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm hoạt động cấp tín dụng xanh của ngân hàng thương mại 1. Định nghĩa về hoạt động cấp tín dụng xanh của ngân hàng thương mại Hoạt động cấp TD là một trong ba trụ cột chính của hoạt động NH.
Xuất phát từ bản chất là cung cấp cho KH một số tiền hoặc tài sản trong một khoảng thời gian xác định và nhận về số tiền gốc kèm lãi, hoạt động cấp TD đã hình thành dáng dấp từ thời kỳ xã hội nguyên thủy bắt đầu tan rã. Bởi khi đó, xã hội bắt đầu có sự phân chia giai cấp, xuất hiện một nhóm người có “của để dành” và nhóm người không có thu nhập, không có tư liệu sản xuất và có nhu cầu về vốn. Tiếp đó, sự ra đời và phát triển của nền kinh tế hàng hóa góp phần thúc đẩy phân công lao động xã hội, đồng thời góp phần làm sâu sắc thêm sự phân hóa giai cấp của các thành viên trong xã hội. TD khi đó được thể hiện thông qua hình thức vay mượn dưới hình thái là sản phẩm, hàng hóa giữa các chủ thể sản xuất kinh doanh và các cá nhân, hộ gia đình nhằm giúp cá nhân, hộ gia đình có vốn kinh doanh, đồng thời giúp nguồn tiền của nhàn rỗi của các chủ thể kinh doanh được xoay vòng.
Đây chính là bản chất của việc điều hòa vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn. Sau này, khi xã hội ngày càng phát triển, hoạt động cấp TD dần được cải tiến, hiện đại và thuận tiện hơn. Khi đó, nó trở thành một trong những hoạt động chính của các NHTM. Đây cũng là hoạt động mang lại nguồn thu lớn cho các NHTM.
Mặt khác, nó cũng giúp điều hòa nền kinh tế, hỗ trợ nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ. Với tính chất quan trọng như vậy khiến cho hoạt động cấp tín dụng ngày càng được quan tâm. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay khi xu hướng tăng trưởng xanh hướng đến PTBV đang ngày càng trở nên phổ biến đã tạo điều kiện cho hoạt động 9 cấp TDX hình thành và phát triển. Rất nhiều các quốc gia trên thế giới đã và đang bắt đầu triển khai thực hiện hoạt động này nhằm hướng đến một xã hội xanh hóa, hạn chế tối đa việc phá hủy môi trường.
Do đó, thuật ngữ “tín dụng xanh” dần được xuất hiện và không còn xa lạ đối với xã hội. Tuy nhiên cho đến nay vẫn có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với khái niệm này. Trước hết, đối với thuật ngữ “tín dụng” có nguồn gốc từ tiếng Latinh là Creditium có ý nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm (Minh Lan, 2019). Chính vì vậy, dựa trên sự tin tưởng và tín nhiệm đó các chủ thể sẽ tiến hành thực hiện các quan hệ vay mượn một lượng giá trị nhất định được thể hiện dưới dạng là tiền tệ hoặc vật chất trong một khoảng thời gian nhất định và dùng tài sản hoặc những giá trị vô hình như tiếng tăm, uy tín để đảm bảo, bảo lãnh cho khoản vay mượn trên.
Theo Từ điển Tiếng Việt, “tín dụng” là quá trình vay mượn có hoàn trả (gốc và lãi). Yếu tố “xanh” là yếu tố thể hiện rõ nhất những đặc trưng của hoạt động cấp TDX, giúp phân biệt hoạt động cấp TDX với hoạt động cấp TD thông thường. Yếu tố “xanh” trong cấp TDX xuất phát từ mục tiêu tăng trưởng xanh hướng đến PTBV. Xét theo nghĩa hẹp, theo “Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011 – 2020 và tầm nhìn đến 2050 của Việt Nam” khẳng định: “Tăng trưởng xanh là sự tăng trưởng dựa trên quá trình thay đổi mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế nhằm tận dụng lợi thế so sánh, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế thông qua việc nghiên cứu và áp dụng công nghệ tiên tiến, phát triển hệ thống cơ sở hạn tầng hiện đại để sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, giảm phát thải khí nhà kính, ứng phó biến đổi khí hậu, góp phần xóa đói giảm nghèo và tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế một cách bền vững”.
Từ mục tiêu của tăng trưởng xanh tạo ra tài chính xanh và NH xanh. Dưới góc nhìn của Chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNEP), “tài chính xanh” là tăng cường mức độ dòng chảy tài chính (NH, TD vi mô, bảo hiểm, đầu tư) từ khu vực nhà nước, tư nhân và phi lợi nhuận sang các ưu tiên PTBV. Với thuật ngữ “ngân hàng xanh” được hiểu là việc NH đề cập đến các hoạt động kinh doanh của NH áp dụng các tiêu chí đánh giá tiêu chuẩn môi trường khi duyệt vốn vay hay cấp TD ưu đãi cho dự án giảm khí thải, năng lượng mới; thực hiện nhiều hoạt động vì môi trường và giảm phát thải carbon, ví dụ như khuyến khích khách hàng sử 10 dụng sản phẩm dịch vụ xanh… (UN ESCAP, 2012). Như vậy, yếu tố “xanh” là yếu tố hướng đến BVMT, hệ sinh thái chung nhằm xây dựng một nền kinh tế xanh và PTBV.
Xu hướng chung trên thế giới hiện nay đang là “xanh hóa” các sản phẩm dịch vụ. Có thể thấy, TDX được bao hàm bởi tài chính xanh và NH xanh. Trong quá trình thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh, mối quan hệ của chúng lại càng trở nên mật thiết hơn bao giờ hết. Trên thế giới, định nghĩa “tín dụng xanh” được xây dựng dựa trên “Nguyên tắc xích đạo” ghi nhận chính thức vào tháng 10 năm 2002 theo sáng kiến của Tập đoàn Tài chính Quốc tế và Ngân hàng Hà Lan (Feng, 2011).
Đây là nguyên tắc đầu tiên trên thế giới sử dụng BVMT làm tiêu chí trong quy trình tài chính doanh nghiệp và cung cấp tiêu chuẩn tham khảo cho việc phát triển ngân hàng phục vụ hoạt động kinh doanh TDX. Dựa trên “Nguyên tắc xích đạo” đã có rất nhiều quan điểm định nghĩa về hoạt động này. Về quan điểm của các tổ chức uy tín, theo Hiệp hội Thị trường nợ (LMA) cho rằng TDX đồng nghĩa với các khoản vay xanh dùng để tài trợ hoặc tái tài trợ một phần hoặc toàn bộ các dự án xanh. Theo đó, các khoản vay xanh có thể là các khoản vay có kỳ hạn hoặc khoản vay tuần hoàn và mục đích của khoản vay thể hiện trong báo cáo tài chính hoặc các tài liệu quảng cáo của doanh nghiệp sẽ quyết định tính chất “xanh” của khoản vay (Lưu Ánh Nguyệt, 2020).
Theo Chương trình Môi trường Liên hợp quốc UNEP (2016) đưa ra khái niệm TDX được hiểu là việc các TCTD cho vay đối với các nhu cầu tiêu dùng, đầu tư, sản xuất – kinh doanh mà không gây rủi ro đến môi trường, góp phần bảo vệ hệ sinh thái chung. Với cách tiếp cận này, hoạt động cấp TDX bao hàm phạm vi vô cùng rộng, không chỉ dừng lại ở việc cấp TDX cho các dự án BVMT mà còn cấp cho cả nhu cầu tiêu dùng nhưng không gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường. Hay Ngân hàng phát triển Châu Á (2013) định nghĩa TDX là tổng hợp các chính sách được sắp xếp có hệ thống và thực hiện bởi các NH để cung cấp các khoản vay hoặc các công cụ tài chính khác thúc đẩy việc bảo tồn năng lượng và giảm phát thải. Về phía quan điểm của các nhà nghiên cứu, cũng có nhiều quan điểm về khái niệm cấp TDX.
Có ý kiến cho rằng: “TDX là các khoản cho vay mà ngân hàng 11 và các tổ chức tài chính khuyến khích doanh nghiệp thực hiện các dự án thân thiện môi trường, giảm phát thải và tiết kiệm năng lượng bằng các chính sách TD” (Zhao & Xu, 2012). Ở Việt Nam, Phạm Xuân Hòe (2015) coi “TDX là bất cứ khoản TD nào dùng để tài trợ hoặc tái tài trợ một phần hoặc toàn bộ các dự án xanh và được thể hiện dưới hình thức TD có kỳ hạn (term loan) hoặc các khoản TD tuần hoàn (revolving credit facilities)”. Với cách tiếp cận này, đã phần nào nói lên bản chất của TDX là một khoản TD được cấp cho KH trong một khoản thời gian xác định và có thể được gia hạn thêm nếu như đáp ứng đầy đủ các điều kiện cụ thể. Về quan điểm của một số quốc gia trên thế giới cũng đưa ra khái niệm TDX, tiêu biểu như Trung Quốc định nghĩa TDX là chính sách tài chính xanh, đề cập đến một loạt các thỏa thuận về chính sách và thể chế nhằm thu hút đầu tư vốn tư nhân vào các ngành công nghiệp xanh như BVMT, tiết kiệm năng lượng, năng lượng sạch thông qua các dịch vụ tài chính gồm cho vay, trái phiếu, cổ phiếu, bảo hiểm… (Nguyễn Đặng Hải Yến, Lê Văn Sơn 2023).
Theo quan điểm trên phạm vi cấp TDX tương đối rộng và được thực hiện thông qua nhiều hình thức đa dạng. Hay ở Việt Nam, tại Khoản 1 Điều 149 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 cũng quy định về khái niệm TDX. Theo đó, “tín dụng xanh là tín dụng được cấp cho các dự án đầu tư sau đây: sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; ứng phó biến đổi khí hậu; quản lý chất thải; xử lý ô nhiễm, cải thiện chất lượng môi trường; phục hồi hệ sinh thái tự nhiên; bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; tạo ra lợi ích khác về môi trường”. Việt Nam tiếp cận khái niệm trên thông qua hình thức liệt kê các dự án được thực hiện cấp TDX.
Đây là cách tiếp cận tương đối khác biệt so với các nhà nghiên cứu, các tổ chức, các quốc gia trên thế giới, song cách tiếp cận này lại khá phổ biến ở Việt Nam. Ưu điểm của việc liệt kê là giúp người đọc dễ hiểu, dễ xác định dự án nào là dự án được cấp TD dưới hình thức là TDX. Tuy nhiên, nó cũng tồn tại nhiều bất cập như dễ bỏ xót nội dung cũng như không thể hiện được bản chất, đặc trưng của hoạt động này so với hoạt động cấp TD thông thường. Do đó, để đảm bảo tính khoa học, nhà làm luật cần sớm đưa ra một khái niệm về TDX đầy đủ hơn, có hàm lượng lý luận cao hơn.
12 Như vậy có thể thấy, khái niệm TDX đã được tiến cận dưới rất nhiều góc độ, từ nhiều luồng quan điểm khác nhau. Từ đó tạo cơ sở thúc đẩy chiến dịch tăng trưởng xanh của toàn cầu nói chung và của các quốc gia trên thế giới nói riêng.