PHẦN MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Trong xu hướng phát triển chung của nền kinh tế toàn cầu, một số quốc gia lấy mục tiêu tăng trưởng làm tiêu chí hàng đầu mà bỏ qua nhiều hệ lụy, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường tự nhiên. Đây là vấn đề luôn được các Tổ chức quốc tế quan tâm nhằm tạo dựng sự phát triển ổn định, bền vững và lâu dài. Chính vì thế, kinh tế xanh, tăng trưởng xanh được xem như là hướng đi mới và phù hợp với xu thế phát triển bền vững của các quốc gia.
Kinh tế xanh được hiểu là một nền kinh tế sạch, thân thiện với môi trường. Mục tiêu của kinh tế xanh là nhằm giúp cải thiện đời sống, giảm thiểu những rủi ro từ môi trường và sự cạn kiệt về tài nguyên thiên nhiên. Hiện nay, các quốc gia trên thế giới đang rất chú trọng đầu tư xây dựng và phát triển kinh tế xanh nhằm hướng tới sự phát triển bền vững. Phát triển bền vững: phát triển trên cả 3 bình diện kinh tế - xã hội - môi trường là một yêu cầu thiết yếu và cấp bách đối với Việt Nam hiện nay, nhưncũng là một thách thức lớn trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Đây là trách nhiệm chung cần có sự phối hợp đồng bộ và cần nhiều nỗ lực hơn nữa từ tất cả các thành phần kinh tế, các cơ quan quản lý, các tổ chức xã hội. Nếu xem xét từ khía cạnh môi trường, mô hình tăng trưởng hiện nay của nước ta vẫn chủ yếu dựa trên việc sử dụng nhiều tài nguyên thiên nhiên, gây ảnh hưởng đến môi trường và gia tăng tác động của biến đổi khí hậu. Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa sẽ càng làm tài nguyên thiên nhiên suy giảm, lượng phát thải CO2 tăng lên. Theo dự đoán của cơ quan Thông tin Năng lượng, mức phát thải khí CO2 sẽ tăng từ hơn 113 triệu tấn trong năm 2010 lên tới gần 471 triệu tấn vào năm 2030.
Nền kinh tế Việt Nam thời gian qua chủ yếu phát triển theo mô hình nền “kinh tế nâu”, tăng trưởng chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên với hiệu quả sử dụng thấp, phát sinh nhiều chất thải, gây ô nhiễm môi trường, công nghệ sản xuất còn lạc hậu… Vì vậy, Việt Nam cần phải có các biện pháp chuyển đổi mô hình tăng trưởng trong tình hình biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng. Hướng chuyển dịch sang mô hình nền “kinh tế xanh” là phương án lựa chọn tối ưu cho sự phát triển bền vững và xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam. Với vai trò là trung gian tài chính, hệ thống ngân hàng là một mắt xích quan 2 trọng trong việc quyết định nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, do đó, sẽ đóng vai trò chiến lược trong tiến trình phát triển bền vững. Việc triển khai các giải pháp từ ngành ngân hàng sẽ góp phần định hướng dòng vốn tín dụng ngân hàng “chảy” vào các dự án xanh, thân thiện với môi trường, từ đó mang lại những lợi ích.
Về phương diện quốc gia, phát triển tín dụng xanh - ngân hàng xanh đóng góp tích cực cho sự phát triển cân bằng, hài hòa giữa kinh tế, môi trường và xã hội, góp phần xóa đói, giảm nghèo và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân; tránh rủi ro về môi trường và xã hội mà nhiều quốc gia đã gặp phải do quá chú trọng về phát triển kinh tế mà coi nhẹ môi trường sinh thái, phù hợp xu thế chung, là cơ hội để các tổ chức tài chính, tín dụng xanh quốc tế đầu tư vốn vào Việt Nam. Là ngân hàng thương mại đi đầu trong tài trợ tín dụng cho các mô hình tăng trưởng xanh, Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoai thương Việt Nam được lựa chọn là một trong bốn Ngân Hàng Thương Mại thực hiện thí điểm triển khai chương trình Tín dụng xanh giai đoạn 2017-2019. Với nhận thức sâu sắc rằng phát triển bền vững đem lại thu nhập ổn định cho người sản xuất kinh doanh và giúp Vietcombank chi nhánh Đồng Nai giảm thiểu các rủi ro tín dụng, thời gian qua, Vietcombank chi nhánh Đồng Nai luôn chú trọng tín dụng vào dự án, phương án sản xuất, kinh doanh nông nghiệp phát triển an toàn, hiệu quả, bền vững, bảo vệ môi sinh, môi trường. Qua nghiên cứu và tham khảo, tác giả nhận thấy rằng hoạt động tín dụng xanh là một vấn đề hết sức cấp thiết mà các NHTM tại Việt Nam nói chung cũng như Vietcombank chi nhánh Đồng Nai nói riêng phải quan tâm nhằm hướng đến kinh doanh an toàn và bền vững.
Vì vậy, tôi đã lựa chọn “Tín dụng xanh tại Ngân hàng Thương mai cổ phần Ngoai thương Việt Nam - chi nhá nh Đồng Nai” làm đề tài nghiên cứu. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI Mục tiêu tổng quát: Trên cơ sở phân tích đánh giá hoạt động tín dụng xanh tại Vietcombank chi nhánh Đồng Nai giai đoạn 2017 – 2019, tác giả mạnh dạn đề xuất các giải pháp phát triển hoạt động tín dụng xanh tại Vietcombank chi nhánh Đồng Nai thời gian tới. 3 Mục tiêu cụ thể: Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng xanh tại Ngân hàng Ngoại Thương chi nhánh Đồng Nai. Đề xuất một số giải phát nhằm phát triển hoạt động tín dụng xanh tại Ngân hàng Ngoại Thương chi nhánh Đồng Nai.
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Thực trạng hoạt động tín dụng xanh tại VCB chi nhánh Đồng Nai như thế nào? Có những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân hạn chế là gì? Để tăng cường phát triển hoạt động tín dụng xanh tại VCB chi nhánh Đồng Nai trong thời gian sắp tới cần thực hiện những giải pháp và kiến nghị nào? 4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động tín dụng xanh tại Ngân hàng thương mại Cổ phần Ngoại thương chi nhánh Đồng Nai. Phạm vi nghiên cứu: Về không gian: Phạm vi nghiên cứu là Ngân hàng thương mại Cổ phần Ngoaị thương chi nhánh Đồng Nai (VCB Đồng Nai) Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển hoạt động tín dụng xanh tại VCB Đồng Nai giai đoạn 2017 - 2019, cũng như định hướng phát triển và mục tiêu hoạt động trong thời gian tới. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính thông qua việc so sánh, phân tích, tổng hợp, để từ đó đánh giá về hoạt động tín dụng xanh tại VCB Đồng Nai.
Cụ thể như sau: So sánh: Luận văn sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo của ngân hàng nhằm đánh giá những thay đổi trong hoạt động phát triển tín dụng xanh tại VCB Đồng Nai qua các năm. Phương pháp tổng hợp được sử dụng trong việc hệ thống hóa các lý thuyết liên quan đến ngân hàng xanh, tín dụng xanh, tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển tín dụng xanh tại các NHTM từ đó tổng kết, rút kinh 4 nghiệm làm tiền đề, cơ sở để đưa ra các giải pháp hoàn thiện hoạt động tín dụng xanh tại chi nhánh trong thời gian tới. Phương pháp thống kê, so sánh: Sẽ sử dung số liệu theo chuỗi thời gian qua đó đánh giá trang hoạt động tín dụng xanh tại VCB Đồng Nai. TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHÊN CỨU Các nghiên cứu nước ngoài: Nghiên cứu của Kaeufer năm 2010 “Banking as a Vehicle for Socio-economic Development and Change” đã đưa ra mô hình ngâ n hàng xanh 5 cấp độ và phâ n tích những hoạt động Ngân hàng xanh thể hiệ n trách nhiệ m ngâ n hàng đối với xã hộ i.
Sarita Bahl (2012) nhấn mạnh các phương thức để tạo ra nhận thức trong nội bộ cũng như trong toàn bộ hệ thống ngân hàng, được thực hiện thông qua các nhóm mục tiêu đào tạo để đạt được sự phát triển bền vững thông qua ngân hàng xanh. Ngoài ra, nghiên cứu còn liệt kê những phương pháp hiệu quả cho ngân hàng xanh và phân tích các chiến lược trong việc thức đẩy hoàn thiện ngân hàng xanh. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu sơ cấp và thứ cấp. Nghiên cứu cho thấy những tin tức xanh hàng ngày được truy cập hoặc được xếp vào sự lựa chọn ưu thích là phương thức hiệu quả để tạo ra nhận thức cho các nhà quản lý và nhân viên để đạt được sự phát triển bền vững thông qua các ngân hàng xanh.
Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng các sự kiện và cuộc họp, phương tiện truyền thông và các trang web được đánh giá là phương tiện hiệu quả để tạo ra được mục tiêu phát triển bền vững thông qua các hoạt động ngân hàng xanh và tín dụng xanh. Nhóm nghiên cứu của bộ phân Green Banking & CSR Develpment Bangladesh Bank (2011) nhận thấy rằng dịch vụ ngân hàng xanh đang được sử dụng với tần suất ngày càng tăng ở hầu hết các nước đang phát triển, bao gồm Bangladesh. Mặc dù các nghiên cứu trước đây đã xác định tầm quan trọng và lợi ích của dịch vụ này đối với cả ngân hàng và khách hàng, nhưng mức độ chấp nhận thực hiện tín dụng xanh ở Bangladesh vẫn còn thấp. Nghiên cứu đã tìm hiểu và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận sử dụng các dịch vụ tín dụng xanh của các ngân hàng.
Nghiên cứu này kết hợp mô hình chấp nhận công nghệ (TAM), cam kết và hỗ trợ của cấp quản lý, áp lực của khách hàng và đối thủ cạnh trnah để đưa ra mô 5 hình lý thuyết. Dữ liệu chính được thư thập từ 120 bảng câu hỏi hợp lệ được phát cho nhân viên của Bangladesh Bank và các sinh viên của North South University. Phân tích số liệu đã được thực hiện bằng cách sử dụng phương pháp tiếp cận phần tử nhỏ nhất (PLS). Khung lý thuyết TAM đã được sử dụng để phân tích ý định hành vi.
Những phát hiện của nghiên cứu chỉ ra rằng (1) Nhận thức dễ sử dụng có ảnh hưởng đến thái độ sử dụng và từ mô hình cũng chỉ ra rằng cả cam kết – hỗ trợ của cấp quản lý và áp lực của khách hàng có thể có động đáng kể đến kế hoạch áp dụng tín dụng xanh, và (2) cam kết quản lý – hỗ trợ và áp lực của khách hàng được coi là một nhân tố dự báo quan trọng trong việc thông qua tín dụng xanh. Nghiên cứu này giúp các nhà quản lý tìm ra các yếu tố liên quan để áp dụng tín dụng xanh. Lãnh đạo của một ngân hàng có thể xem xét các kết luận của bài nghiên cứu trong việc đánh giá tín dụng xanh và giá trị ngân hàng của họ.