Chương 1: Những vấn đề lý luận về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất. Chương 2: Thực trạng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và thực tiễn thực hiện tại huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội 7 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƢỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƢ VÀ PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƢỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƢ KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT 1. KHÁI QUÁT VỀ BỒI THƢỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƢ KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT 1. Khái niệm của bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ khi nhà nƣớc thu hồi đất 1.
Khái niệm thu hồi đất Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đối với đất đai nên Nhà nước có quyền giao đất, cho thuê đất và có quyền THĐ. Theo Từ điển Tiếng Việt thì thu hồi được hiểu là: "thu về lại, lấy lại cái trước đó đã đưa ra, đã cấp phát hoặc đã bị mất vào tay người khác" [23, tr. Nếu hiểu theo khái niệm này thì THĐ chính là việc Nhà nước lấy lại quyền sử dụng đất đã giao cho các tổ chức, cá nhân sử dụng hoặc lấy lại quyền sử dụng đất do người khác lấn, chiếm đất của Nhà nước. Cách hiểu này chỉ phù hợp với trường hợp tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất; còn các trường hợp quyền sử dụng đất hình thành từ việc Nhà nước công nhận, giao đất có thu tiền sử dụng đất, nhất là qua cơ chế đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất, thì thuật ngữ "THĐ" có vẻ như không phù hợp vì trường hợp này Nhà nước chỉ đứng ra công nhận quyền của người sử dụng đất mà thôi.
Theo từ điển Giải thích thuật ngữ luật học thì: "thu hồi đất là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi quyền sử dụng đất của người vi phạm quy định về sử dụng đất để Nhà nước giao cho người khác sử dụng hoặc trả lại cho chủ sử dụng đất hợp pháp bị lấn chiếm, trường hợp cần thiết NNTHĐ đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng" [33, tr. Cách hiểu này chưa bao quát được hết các trường hợp THĐ 8 trên thực tế hiện nay. Về mặt pháp lý, khái niệm THĐ lần đầu tiên được đề cập đến trong Luật đất đai (LĐĐ) năm 1987 và LĐĐ năm 1993 nhưng chưa định nghĩa rõ ràng mà chỉ liệt kê các trường hợp bị THĐ tại Điều 14, LĐĐ 1987 và Điều 26, LĐĐ 1993. Đến LĐĐ 2003 mới có định nghĩa về THĐ được quy định tại Khoản 5, Điều 4: ''Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, UBND xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này".
Khái niệm này vẫn chưa đầy đủ và chính xác, bởi nó dẫn đến cách hiểu là chỉ THĐ đối với tổ chức, UBND xã, phường, thị trấn, trong khi người bị thu hồi có thể là hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất, mà đây mới là những đối tượng phổ biến bị thu hồi hiện nay' [27]. Để khắc phục điều đó, LĐĐ năm 2013 đã quy định: "Nhà nước THĐ là việc Nhà nước ra quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu hồi lại đất của người sử dụng vi phạm pháp luật về đất đai" (Khoản 11, Điều 4). Như vậy, bằng quyền lực của Nhà nước đối với vai trò đại diện chủ sở hữu đối với đất đai, Nhà nước có quyền thu lại quyền sử dụng đất của tất cả các chủ thể sử dụng đất mà trước đó Nhà nước đã trao quyền sử dụng đất cho họ như: giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất. Bên cạnh đó, để đảm bảo sự nghiêm minh trong thực thi pháp luật đất đai, Nhà nước có quyền chấm dứt quyền sử dụng đất đối với các hành vi vi phạm pháp luật đất đai.
Từ các cách hiểu trên, có thể thấy THĐ có một số đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, THĐ là việc thực hiện quyền định đoạt đất đai của Nhà nước với vai trò đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và được pháp luật đất đai quy định. Thứ hai, THĐ xuất phát từ một yêu cầu cụ thể (do nhu cầu về lợi ích chung như: phục vụ quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế xã hội, lợi ích 9 công cộng.) hoặc trong một hoàn cảnh cụ thể như: do vi phạm pháp luật đất đai, hết thời hạn sử dụng đất, người sử dụng đất trả lại đất. Thứ ba, THĐ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện bằng một quyết định hành chính có tên gọi là quyết định THĐ nhằm làm chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức, cá nhân, gia đình đối với đất. Thứ tư, THĐ không chỉ chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đối với một mảnh đất nhất định mà còn gây ra những hậu quả xã hội cần phải giải quyết, đó là người bị THĐ bị mất chỗ ở hoặc mất đất sản xuất.
hậu quả là, cuộc sống sinh hoạt và sản xuất của họ bị đảo lộn, rơi vào cảnh không có chỗ ở hoặc không có việc làm. đòi hỏi Nhà nước phải có biện pháp để hỗ trợ, giải quyết sau khi THĐ. Như vậy, có thể khái quát: "Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu hồi lại đất và quyền sử dụng đất đang có người sử dụng, trong những trường hợp nhất định theo quy định của LĐĐ". Khái niệm bồi thường khi nhà nước thu hồi đất Bồi thường là một thuật ngữ được sử dụng cho những trường hợp người có hành vi gây thiệt hại cho người khác và phải có trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại do hành vi của họ gây ra.
Theo từ điển tiếng Việt thông dụng: "bồi thường, đền bù những tổn hại đã gây ra". Trong lĩnh vực pháp luật đất đai, trách nhiệm bồi thường được đặt ra khi NNTHĐ để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, mục đích phát triển KT-XH vì mục đích quốc gia, công cộng. Việc THĐ này không do lỗi của người sử dụng mà vì mục đích chung của xã hội. Với tư cách là đại diện chủ sở hữu, Nhà nước có trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người bị THĐ, đồng thời giúp chủ đầu tư nhanh chóng có mặt bằng cho việc thực hiện dự án.
Theo Khoản 6, Điều 4, LĐĐ năm 2003 quy định: "Bồi thường khi NNTHĐ là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đai đối với diện 10 tích đất bị thu hồi cho người bị THĐ" [27]. Khái niệm này chưa thể hiện đầy đủ giá trị mà Nhà nước cần phải bù đắp cho người sử dụng đất, bao hàm cả những thiệt hại về tài sản trên đất và những thiệt hại vô hình khác mà không thể đo đếm được như: môi trường sống của cộng đồng dân cư, điều kiện học tập, các dịch vụ, tiện ích sinh hoạt. Vì vậy, tại Khoản 12, Điều 3 LĐĐ 2013 về giải thích từ ngữ đã quy định rõ: "Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người sử dụng đất" [28]. Mặc dù không giải thích thế nào là bồi thường đối với tài sản trên đất nhưng trong tất cả các quy định của mục 3, chương 6 của LĐĐ 2013 đều nhất quán sử dụng thuật ngữ bồi thường thiệt hại đối với tài sản trên đất.
Từ đó có thể hiểu: Bồi thường khi NNTHĐ là việc Nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế. phải bù đắp những tổn hại về đất và tài sản trên đất do hành vi THĐ gây ra cho người sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai. Theo quy định tại Điều 74, LĐĐ 2013: "Người sử dụng đất khi NNTHĐ nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường". Có nghĩa là, khi hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Bên cạnh đó, pháp luật đất đai cũng quy định các trường hợp bị THĐ mà không được bồi thường, hỗ trợ như: đất được Nhà nước giao để quản lý, đất bị thu hồi do vi phạm pháp luật và do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận. Hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 11 Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi NNTHĐ đều là hậu quả pháp lý trực tiếp do hành vi THĐ của Nhà nước gây ra. Song, bồi thường là hệ quả tất yếu của việc THĐ thì hỗ trợ được xem là biện pháp bổ sung, là sự "kéo dài" của quá trình bồi thường, đóng vai trò khỏa lấp khoảng trống mà các quy định về bồi thường chưa giải quyết được, nhằm bù đắp một cách thỏa đáng những thiệt hại do bị NNTHĐ gây ra. Ngoài các thiệt hại hữu hình về giá trị quyền sử dụng đất, công trình xây dựng, cây trồng vật nuôi, đối tượng bị THĐ còn chịu ảnh hưởng bởi các thiệt hại vô hình khác như mất ổn định cuộc sống, mất chỗ ở, mất tư liệu sản xuất, phải học nghề mới, thiệt hại về tinh thần.
Hỗ trợ, TĐC thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước và biểu hiện bản chất "của dân, do dân, vì dân" của Nhà nước ta nhằm hỗ trợ, chia sẻ khó khăn với người bị THĐ và giúp họ nhanh chóng ổn định cuộc sống.