Đề tài: Pháp luật về hoạt động Ngân hàng TM ở Việt Nam trong chuyển đổi số

Nghiên cứu khoa học cấp trường: Pháp luật về hoạt động ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số (Phần 1). Tìm hiểu ngay!

Chuyên ngành

Pháp luật kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề tài khoa học cấp trường

2024

197
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

PHAN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu của đề tài

1. CHƯƠNG 1: NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE PHÁP LUẬT VE HOAT DONG NGAN HANG CUA NGAN HANG THUONG MAI TRONG BOI CANH CHUYEN DOI SO

1.1. Lý luận về hoạt động ngân hàng của ngân hàng thương mại trong bối cảnh CHUYEN DOI SO

1.1.1. Khái niệm, đặc trưng và vai trò của hoạt động ngán hang của Ngân hang thương mại trong bối cảnh chuyến đổi số

1.1.2. Các mô hình hoạt động ngân hang trong bối cảnh chuyến đổi số trên thé giới

1.1.3. Mô hình Digital Banking đỘC ÏẬp

1.1.4. Mô hình kinh doanh thúc đẩy phát triển số hoá các hoạt động ngân hàng

1.2. Lý luận pháp luật về hoạt động ngân hang của ngân hang thuong mai trong bối cảnh Chuyén DOI SO

1.2.1. Khái niệm pháp luật về hoạt động ngân hang của ngân hàng thương mại trong bối cảnh chuyển đổi SỐ

1.2.2. Sự cần thiết phải điều chính pháp luật về hoạt động ngân hàng của Ngân hàng thương mai trong Đôi cảnh ChHYÊH đổi SỐ

1.2.3. Nội dung pháp luật Việt Nam về hoạt động ngân hàng của ngân hàng thương mai trong boi cảnh chuyển Ai SỐ

2. CHƯƠNG 2: THỤC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỤC TIỀN ÁP DỤNG PHÁP LUAT VE HOAT ĐỘNG NGÂN HANG CUA NGAN HANG THƯƠNG MAI Ở VIỆT NAM TRONG BOI CẢNH CHUYEN ĐÔI SO

2.1. Thực trạng pháp luật quy định về hoạt động ngân hang của ngân hang thương mại ở Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi sỐ

2.2. Thực trạng pháp luật quy định về hoạt động nhận tiền gửi của Ngân hàng thương mại ở Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi SỐ

2.3. Thực trang pháp luật quy định về hoạt động cấp tin dụng của ngân hang thương mại ở Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi sỗ

2.3.1. Về hoạt động cho vay bằng phương thức GEN ỨNG

2.3.2. Phát hành thé bằng phương tiện điện tử

2.3.3. Pháp luật về bảo lãnh điện tử

2.4. Thực trạng pháp luật quy định về nghiệp vụ thanh toán của ngân hàng thương mại ở Việt Nam trong bỗi cảnh chuyển đỗi số

2.5. Thực trạng pháp luật quy định vé kiểm soát rủi ro trong hoạt động ngân hàng của ngân hàng thương mại ở Việt Nam trong bỗi cảnh chuyển bi sỗ

2.6. Thực tiễn áp dụng pháp luật về chuyển đối số trong hoạt động ngân hàng tại một số ngân hàng thương mai ở Viet ÌNGIH

2.7. Các danh gia ban đầu doi với qua trình chuyển đổi số của các ngân hàng hi0ng

2.8. Những khó khan thách thức trong qua trình chuyển doi sé tại các ngân hang thương mại ở Việt Nam liỆH HẠÿ

KET LUAN

3. MOT SO GIAI PHÁP HOÀN THIEN PHÁP LUẬT VE HOẠT DONG NGAN HANG CUA NGAN HANG THUONG MAI Ở VIỆT NAM TRONG BOI

3. Những yêu cầu được đặt ra trong quá trình xây dựng khung pháp luật về Ngân

3. Một số khuyến nghị về pháp lý về hoạt động ngân hàng của ngân hàng thương mai trong bỗi cảnh chuyển Ai SỐ

3. Một số giải pháp nhằm thúc đây hoạt động ngân hang của ngân hàng thương mại trong bối cảnh chuyển đổi số

KET LUẬN CHUNG

DANH MỤC TAI LIEU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Pháp Luật Ngân Hàng Số Thách Thức Cơ Hội

Chuyển đổi số (CĐS) đã trở thành xu thế tất yếu, nằm trong ưu tiên phát triển của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Tại Việt Nam, chuyển đổi số được đề cập như là một trong những trụ cột chính trong Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2021- 2030 của Đại hội XIII. Chuyển đối số trong lĩnh vực ngân hàng ngày càng giữ vai trò quan trọng, quyết định đến sự “sống còn”, phát triển của các ngân hàng. Trong thời gian qua, công cuộc chuyển đổi số ngân hàng ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định, đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế. Tuy nhiên, thực tế triển khai chuyển đối số ngân hàng cũng gặp không ít những khó khăn, vướng mắc cần được tháo gỡ để có thé đạt được mục tiêu trong Kế hoạch chuyển đối số ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Tuy nhiên, sự phát triển của hoạt động thanh toán qua ví điện tử là hoạt động gắn với sự phát triển của khoa học, công nghệ và viễn thông. Trong khi đó, bối cảnh của cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đã làm thay đổi mọi mặt về đời sống kinh tế - xã hội và sự phát triển của hoạt động thanh toán qua vi điện tử tại Việt Nam nói riêng và trên toàn thế giới nói chung. Sự thay đôi của công nghệ đã dẫn đến những quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh trực tiếp hoạt động của ngân hàng thương mại trong bối cảnh chuyển đổi số bộc lộ những bat cập, hạn chế và không còn phù hợp với thực tiễn để điều chỉnh các quan hệ pháp luật mới nảy sinh. Thách thức đặt ra đối với các cơ quan có thâm quyên là cần nhanh chóng rà soát hệ thống văn bản pháp luật hiện hành, từ đó sửa đối, bé sung các quy định pháp luật không còn phù hợp, ban hành các văn phạm pháp luật mới dé kịp thời điều chỉnh các quan hệ pháp luật mới nay sinh, nhằm đưa hoạt động của ngân hàng thương mại trong bối cảnh chuyển đối số phát triển theo đúng định hướng mà Việt Nam đã đề ra.

1.1. Hoạt động ngân hàng trong kỷ nguyên số Khái niệm Bản chất

Trong kỉ nguyên chuyển đổi số, không tiến lên chính là đang tụt hậu. Chính vì vậy, hiện nay chuyên đối số trở thành xu hướng tất yếu trong rất nhiều lĩnh vực của đời sông kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực ngân hàng. Trong những năm gần đây, ngành Ngân hàng đã có nhiều thay đối đáng kế với ứng dụng chuyền đổi số, bên cạnh đó, các công ty công nghệ tài chính (Fintech) đã làm thay đối thị trường với Sự xuất hiện của công nghệ chuỗi khối (Blockchain) và tiền điện tử. Các ngân hàng đã ứng phó với những thay đổi của thị trường và đã hợp tác với Fintech để đưa ra các dịch vụ kĩ thuật số mới nhằm chú động thích ứng với bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0), tạo lợi thé cạnh tranh và phát triển bền vững. Chuyển đối số trong ngành Ngân hàng không chi đơn giản là ứng dụng các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ Blockchain... ma còn là sự chuyển đổi về toàn bộ mô hình, chiến lược và văn hóa kinh doanh, cách thức hoạt động của ngân hàng trên nền tang đổi mới công nghệ. Có thé nói, ngân hàng là ngành tiên phong trong chuyên đổi so, trên cơ sở đó, liên tục đem đên những cải tiên và đột phá trong cung cấp các hoạt động địch vụ đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú và đa đạng của người dân và toàn xã hội. Chuyén đổi số trong ngân hàng là việc tích hợp số hóa và công nghệ số vào mọi lĩnh vực ngân hang. Sự tích hợp này cho phép tạo mới hoặc sửa đối các quy trình kinh doanh, văn hóa và trai nghiệm khách hàng hiện có nhằm đáp ứng các yêu cầu thay đổi của thị trường và mong muốn của khách hàng.

1.2. Các yếu tố tác động đến chuyển đổi số trong ngân hàng

Số lượng người dùng internet đầu năm 2023, Việt Nam có 77,93 triệu người dùng Internet, chiếm 79,1% tổng dân số. Ngoài ra, số lượng người dùng mạng xã hội cũng đạt con số 70 triệu, tương đương với 71% tổng dân số. Tổng số kết nối di động đang hoạt động là 161,6 triệu, tương đương với 164,0% tổng dan s6. Dữ liệu này minh họa sự chuyên đổi số hóa ở những người bắt đầu theo dõi sự phát triển của kỷ nguyên số, điều này hứa hẹn các ngân hàng sẽ thay đổi chiến lược tiếp thi từ truyền thông sang kỹ thuật số. Chuyén đổi số (Digital transformation) được hiểu là ứng dụng những tiến bộ về công nghệ số như điện toán đám mây (cloud), dữ liệu lớn (Big data), ... vào mọi hoạt động của tổ chức, doanh nghiệp nhăm đưa lại hiệu suất cao, thúc đây phát triển doanh thu và thương hiệu. Chuyển đổi số không phải đơn thuần thay đổi cách thực hiện công việc tử thủ công truyền thống (ghi chép trong số sách, họp trực tiếp, .) sang vận dụng công nghệ dé giảm thiểu sức người. Trên thực tế, chuyén đổi số đóng vai trò thay đổi tư duy kinh doanh, phương thức điều hành, văn hóa tổ chức, . CDS là đoanh nghiệp của bạn có thé sử dụng công nghệ dé tạo lợi thé bằng cách giảm chi phí, tự động hóa các quy trình hiện có hoặc bién các mô hình kinh doanh hiện tại thành các kênh ngân hàng số.

II. Thách Thức Pháp Lý Chuyển Đổi Số Ngân Hàng Nhận Diện Rủi Ro

Với sự kết hợp những hoạt động truyền thống của ngân hàng cùng những công nghệ hiện đại, chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đang là một xu hướng phát triển trên khắp thế giới, đặc biệt là ở những quốc gia đang phát triển có tỷ lệ dân số trẻ, sử dụng phố cập internet. Qua quá trình hoạt động chuyền đổi số trên thế giới có thể nhận diện một số đặc trưng cơ bản của hoạt động ngân hàng của NHTM trong bồi cảnh chuyển đổi số bao gồm: Thứ nhất, hoạt động ngân hàng của NHTM trong bối cánh chuyến đối số tận dụng yếu tố công nghệ để đối mới toàn diện cách thức cung cấp dich vụ cũng như tổ chức và quản lý các ngân hàng. Thứ hai, một phần hoặc toàn bộ hoạt động và hoạt động ngân hàng của NHTM được thực hiện trên môi trường số. Thứ ba, hoạt động ngân hang của NHTM trong bối cảnh chuyên đổi số thường hoạt động trong môi trường pháp lý thử nghiệm và chưa hoàn chỉnh. Thứ tư, hoạt động ngân hàng của NHTM trong bối cảnh chuyển đối số tiềm an nhiều rủi ro. Về cơ bản, một ngân hàng hoạt động truyền thống đã tiềm ân nhiều rủi ro từ bán chất trung gian tài chính, nên khi chuyển đổi số, các sản phẩm địch vụ ngân hàng càng mang thêm nhiều rủi ro hơn khi diễn ra trên môi trường mạng.

2.1. Rủi ro pháp lý và tuân thủ trong ngân hàng số

Trong bối cánh các NHTM ở Việt Nam mới chỉ bắt đầu áp dụng các tiêu chuẩn quản trị theo Basel 3, đồng thời đã có những bước đột phá trong việc triển khai các dịch vụ ngân hàng số thì chiến lược quản trị rủi ro về công nghệ thông tin sẽ là van dé rất quan trọng. Hơn nữa, vân đề bảo mật thông tin khách hàng, tội phạm công nghệ mạng trong thời đại công nghệ tiềm an quá nhiều nguy cơ cho cả khách hàng và NHTM. Hoạt động ngân hàng của NHTM trong bối cảnh chuyên đổi số buộc phải lựa chọn giữa việc chờ đợi các quy định pháp luật và phần lớn đang chấp nhận mạo hiểm dé đưa ra các sản phẩm mới. Điều này xuất phát từ thực tế các đổi mới về công nghệ tiến triển quá nhanh làm thay đổi toàn bộ cách thức tổ chức và cung ứng các dịch vụ ngân hàng, trong khi hệ thống các quy định pháp luật về ngân hàng chưa kịp thời thay đổi và thích ứng. Do đó, ở phan lớn các khu vực pháp lý trên thé giới khi điều chỉnh về hoạt động ngân hàng của NHTM trong bối cảnh chuyền đối số sẽ có xu hướng áp dụng khung khé pháp luật hiện hành trong lĩnh vực ngân hàng để điều chỉnh. Điều này ít nhiều cũng sẽ tạo ra những khó khăn đối với các ngân hàng thương mại bởi các quy định pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng thường được xây dựng một cách chặt chẽ, khat khe và có mục tiêu chính hướng tới ngăn ngừa va xử lý rủi ro đối với hệ thống ngân hang và khách hàng hơn là thích nghi với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ.

2.2. An ninh mạng và bảo mật dữ liệu khách hàng trong ngân hàng số

Về cơ bản, một ngân hàng hoạt động truyền thống đã tiềm ân nhiều rủi ro từ bán chất trung gian tài chính, nên khi chuyển đổi số, các sản phẩm địch vụ ngân hàng càng mang thêm nhiều rủi ro hơn khi diễn ra trên môi trường mạng. Thậm chí, các sản phẩm dịch vụ mới xuất hiện cũng còn rất lạ lẫm, mà các ngân hàng triển khai dịch vụ cũng còn không ước tính được hết những rủi ro có thé xay ra. Trong bối cánh các NHTM ở Việt Nam mới chỉ bắt đầu áp dụng các tiêu chuẩn quản trị theo Basel 3, đồng thời đã có những bước đột phá trong việc triển khai các dịch vụ ngân hàng số thì chiến lược quản trị rủi ro về công nghệ thông tin sẽ là van dé rất quan trọng. Hơn nữa, vân đề bảo mật thông tin khách hàng, tội phạm công nghệ mạng trong thời đại công nghệ tiềm an quá nhiều nguy cơ cho cả khách hàng và NHTM.

III. Hướng Dẫn Xây Dựng Khung Pháp Lý Vững Chắc Cho Ngân Hàng

Điều chỉnh pháp luật về hoạt động ngân hàng của NHTM trong bối cảnh chuyển đối sé là yêu cầu tất yếu nhằm đảm bảo cho sự phát triển an toàn, ổn định của ngành tài chính và bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng. Khung pháp luật cho hoạt động ngần hàng của NHTM trong bối cảnh chuyển đổi số được hiểu là tong thé các quy pham pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phat sinh trong quá trình hoạt động ngân hàng của NHTM trong bối cảnh chuyển đổi số. Các quan hệ xã hội năm trong sự điều chỉnh của khung pháp luật này là tương đối đa dạng bao gồm: i) Quan hệ giữa cơ quan quản ly nhà nước với tổ chức cung ứng dịch vụ NHS trong quá trình thành lập và hoạt động: ii) Quan hệ giữa t6 chức cung ứng dịch vụ NHS với khách hang; iii) Quan hệ giữa các tổ chức cung ứng dịch vụ NHS với nhau và với các TCTD truyền thống: iv) Quan hệ giữa các tô chức cung ứng dịch vụ NHS với các tô chức cung cấp các công nghệ ứng dụng trong Ngân hàng số.

3.1. Tiêu chí đánh giá và hoàn thiện pháp luật ngân hàng số

Pháp luật về hoạt động ngân hàng của NHTM trong bối cảnh chuyển đổi là một bộ phận của pháp luật ngân hàng. Vẫn là mô hình ngân hàng truyền thống đó nhưng được số hoá một số dịch vụ ngân hàng nhằm đem lại sự tiện lợi cho khách hàng trong quá trình sử dụng các dịch vụ như: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán. Vì vậy, ngoài các rủi ro vốn có của hoạt động ngân hàng truyền thống, trong bối cảnh chuyển đổi số, hoạt động ngân hàng của NHTM còn tiềm ân nhiều hơn như rủi ro về vấn đề công nghệ và các vấn đề phát sinh tranh chấp khi số hoá. Pháp luật về hoạt động ngân hàng của NHTM trong bối cảnh chuyển đổi có môi quan hệ mật thiết với các lĩnh vực pháp luật khác. Theo đó, pháp luật về hoạt động ngân hàng của NHTM trong bối cảnh chuyên đổi được hiểu là một nội dung pháp luật ngân hàng. Vì vậy, khi nghiên cứu những quy định về hoạt động ngân hàng của NHTM trong bối cảnh chuyển đổi, chúng ta phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của pháp luật ngân hàng. Tuy nhiên, nội dung pháp luật về hoạt động ngân hàng của NHTM trong bối cảnh chuyển đổi cũng đặt trong chỉnh thể thống nhất với các quy định thuộc lĩnh vực khác như: pháp luật dân sự, pháp luật thương mại, pháp luật cạnh tranh, pháp luật về giao dịch điện tử, pháp luật về bảo mật thông tin, pháp luật về phòng chống rửa tiền.

3.2. Các bước xây dựng hành lang pháp lý cho Fintech và ngân hàng mở

Thứ nhất, việc xây đựng và hoàn thiện khung pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng của ngân hàng thương mại tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động của chuyền đổi số trên thị trường. Chuyên đổi số ngành ngân hàng không chỉ đến từ “sự thúc ép” từ Chuyển đối số toàn diện của Chính phủ mà còn là đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Rõ ràng, Ngân hàng thương mại nào đang chậm trễ trong hoạt động chuyên đổi số cũng dẫn đến việc mất đi một thị phần khách hàng rất lớn. Thứ hai, việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng của ngân hàng thương mại giúp ngăn chặn, phòng ngừa hoạt động rửa tiền và các hoạt động phi pháp. Các sản phẩm, dịch vụ ngân hang của NHTM trong bối cảnh chuyền đối số ngày càng phát triển thì nguy cơ xuất hiện các vi phạm pháp luật ngày càng nhiều, hơn thế các vi phạm sẽ gia tăng không chí về số lượng mà còn cả mức độ phức tạp. Các vi phạm này có thể tương ứng với các vi phạm thông thường trong lĩnh vực ngân hàng nhưng cũng có thể xuất hiện những vi phạm mới, rủi ro đặc thù của chuyên đổi số. Do đó pháp luật cần đưa ra các quy định về hành vi vi phạm trong hoạt động ngân hàng của NHTM trong bối cảnh chuyển đổi số cùng các chế tài rõ ràng.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật

Thứ ba, việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng của các ngân hàng thương mại (NHTM) trong bối cảnh chuyển đổi số là hết sức cần thiết đề tạo lập hành lang pháp lý bảo vệ quyền lợi của khách hàng. Pháp luật đóng vai trò cực kỳ quan trong trong việc dam bảo hiệu quả bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng các dịch vụ tài chính ngân hàng, đặc biệt là trong môi trường số hóa hiện nay. Việt Nam đang chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của thị trường tài chính-ngân hàng nhờ công nghệ số. Tuy nhiên, nhận thức của người tiêu dùng về các sản phẩm ngân hàng số vẫn còn hạn chế. Các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng, đặc biệt là những sản phẩm ứng dụng công nghệ số, thường khá phức tạp và chứa nhiều quy trình đặc thù.

4.1. Bài học kinh nghiệm quốc tế về pháp luật ngân hàng số

Mô hình Digital Banking độc lập là thực thể ngân hàng được cấp giây phép thành lập ngân hàng riêng, được thực hiện đầy đủ các hoạt động ngân hàng, tiền gửi của khách hàng được bảo hiểm theo chương trình bảo hiểm tiền gửi quốc gia và được quản lý, giám sát như một loại hình ngân hàng độc lập. Về bản chất, các tổ chức này có thé được xem giống như các ngân hàng thực thụ đo được cơ quan quản lý tiền tệ - tài chính cấp giấy phép ngân hàng để cung cấp các dịch vụ tài chính, ngân hàng theo các tiêu chuẩn, ràng buộc, điều kiện hoạt động ngân hàng riêng nhưng vẫn tuân theo một khung khổ quản lý, giảm sat chung đối với hoạt động của các ngân hàng.

4.2. Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về ngân hàng trong chuyển đổi

Tóm lại, từ những phân tích trên, có thé khang định rằng, việc điều chỉnh bang pháp luật đối với van đề hoạt động ngân hàng của NHTM trong bối cảnh chuyền đổi số là thực sự cần thiết đối với pháp luật ngân hàng và sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Nội dung pháp luật Việt Nam về hoạt động ngân hàng của ngân hàng thương mại trong bối cảnh chuyển đổi số Cách mạng công nghiệp 4.0 còn được gọi là cuộc cách mạng số, thông qua các công nghệ như Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), thực tế ảo (VR), tương tác thực tế ảo (AR), mạng xã hội, điện toán dam mây, di động, phân tích dữ liệu lớn (SMAC)... dé chuyển hóa toàn bộ thé giới thực thành thế giới số.0 đang mở ra nhiều cơ hội, đông thời cũng đặt ra nhiêu thách thức đối với mỗi quốc gia, tổ.

V. Pháp luật Ngân hàng Số Hướng Đến Tương Lai Bền Vững

Các sản phẩm, dịch vụ ngân hang của NHTM trong bối cảnh chuyền đối số ngày càng phát triển thì nguy cơ xuất hiện các vi phạm pháp luật ngày càng nhiều, hơn thế các vi phạm sẽ gia tăng không chí về số lượng mà còn cả mức độ phức tạp. Các vi phạm này có thể tương ứng với các vi phạm thông thường trong lĩnh vực ngân hàng nhưng cũng có thể xuất hiện những vi phạm mới, rủi ro đặc thù của chuyên đổi số. Do đó pháp luật cần đưa ra các quy định về hành vi vi phạm trong hoạt động ngân hàng của NHTM trong bối cảnh chuyển đổi số cùng các chế tài rõ ràng.

5.1. Bảo vệ người tiêu dùng trong giao dịch ngân hàng trực tuyến

Thanh toán dùng tiền mat dé đàng là một trong những yếu té thúc đây hoạt động rửa tiền phát triển. Mặc dù công nghệ tài chính phát triển có thể giúp kiểm soát hoạt động này, những tiến bộ trong lĩnh vực công nghệ tài chính không chỉ cải thiện cách thức thực hiện giao dịch truyền thống mà còn mở ra nhiều cơ hội mới cho các cá nhân và doanh nghiệp, như việc thanh toán nhanh chóng và hiệu quả hơn. Tuy nhiên, việc chuyên đối số trong ngành ngân hàng cũng dẫn đến những nguy cơ mới liên quan đến rửa tiền, đặc biệt là với sự phổ biến ngày càng rộng rãi của các thiết bi di động. Điều này làm gia tăng ty lệ và tác động của tội phạm rửa tiền.

5.2. Tuân thủ GDPR và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong ngân hàng số

Thứ ba, việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng của các ngân hàng thương mại (NHTM) trong bối cảnh chuyển đổi số là hết sức cần thiết đề tạo lập hành lang pháp lý bảo vệ quyền lợi của khách hàng. Pháp luật đóng vai trò cực kỳ quan trong trong việc dam bảo hiệu quả bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng các dịch vụ tài chính ngân hàng, đặc biệt là trong môi trường số hóa hiện nay.

18/09/2025
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường pháp luật về hoạt động của ngân hàng thương mại ở việt nam trong bối cảnh chuyển đổi số phần 1

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài được kết cấu thành 3 chương với nội dung cụ thể như sau: CHUONG 1. NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VÀ PHAP LUAT VE HOAT ĐỘNG NGAN HANG CUA NGAN HANG THUONG MAI TRONG BOI CANH CHUYEN DOI SO CHUONG 2. THUC TRANG PHAP LUAT VE HOAT DONG NGAN HANG CUA NGAN HANG THUONG MAI O VIET NAM TRONG BOI CANH CHUYEN ĐÔI SO CHUONG 3. MOT SO GIAI PHAP HOAN THIEN PHAP LUAT VE HOAT DONG NGAN HANG CUA NGAN HANG THUONG MAI O VIET NAM TRONG BOI CANH CHUYEN DOI SO 10 CHUONG 1.

NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE PHAP LUẬT VE HOẠT ĐỘNG NGAN HANG CUA NGAN HANG THUONG MAI TRONG BOI CANH CHUYEN ĐÔI SO 1. Lý luận về hoạt động ngân hang của ngân hang thương mại trong bối cảnh chuyển đỗi số 1. Khai quát về hoạt động ngân hàng của ngân hàng thương mai trong bỗi cảnh chyén đổi số Ngân hàng thương mại (NHTM) tại Việt Nam ra đời trên co kế thừa hoạt động của Ngân hàng Nhà nước phục vụ công cuộc bảo vệ tổ quốc và khi hoà bình lập lại, nhiều ngân hàng thương mại được thành lập với mục tiêu kinh doanh và đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn của các chủ thé trong xã hội. Ngân hàng thương mại là định chế tài chính đóng vai trò trung gian trong quá trình chuyên đổi vốn từ người cho vay sang người đi vay.

NHTM có vai trò kết nỗi nguồn cung vốn và nguồn cầu vốn. Ngân hàng thương mai là trái tim của nền kinh tế có vị trí quan trọng nhất trong nền kinh tế, có chức năng tạo tiền khi đem lại lợi tức cho người gửi tiền, tạo đòn bay tài chính cho người được cấp tín dụng bên cạnh lợi tức đem lại cho ngân hàng. NHTM với chức năng của định chế tài chính trung gian tham gia kiểm soát đòng tiền trong nền kinh tế khi thực hiện chuyền tiền từ nhà đầu tư đến doanh nghiệp. Số lượng các tổ chức định chế tài chính lớn đã tao ra đa dang các sản phẩm, dịch vụ định chế tài chính giúp các nhà đầu tư có thê mở rộng danh mục đầu tư của mình giúp giảm thiêu rủi ro cho các nhà đầu tư khi nguồn tiền được phân bé cho nhiều hạng mục khác nhau.

Thông qua sự hỗ trợ của các định chế tài chính, nhà đầu tư sẽ tiết kiệm được các chi phí trong quá trình đầu tư. Ngân hàng thương mại là một trong những định chế tài chính cung cấp các phương thức thanh toán giúp cho thị trường vận hành nhanh chóng, hiệu quả. Với chức năng của định chế tài chính trung gian như trên, NHTM thúc đây nền kinh tế phát triển. Dễ thấy nhất là chức năng trung gian thanh toán của ngân hàng thương mại ngày nay kết nối tới khắp nơi trên thé giới từ thành thị đến miền núi, hải đảo có ý nghĩa rất lớn đối với nền kinh tế xã hội chuyên đổi hiện đại, nâng cao trải nghiệm khoa học công nghệ cho người dùng, góp phân tiết giảm chỉ phí và lượng tiền mặt lưu thông, đảm bảo an toàn trong thanh toán, qua đó thúc đầy quá trình lưu thông hàng hoá, tốc độ luân chuyển vốn và gia tăng hiệu quả của quá trình tái sản xuất xã hội.

Khi nền cá thế giới gặp biến cổ, trở ngại do dịch bệnh Covid, NHTM Việt Nam II cũng đã thé hiện tốt vai trò định chế tài chính trung gian, là cánh tay đắc lực của Chính phủ và NHNN trong việc thực thi các chính sách thanh toán khi giãn cách xã hội. Chức nang của NHTM Việt Nam được ghi nhận cụ thé tại Luật các Tổ chức tín dụng qua các thời kỳ. Theo đó, NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận": NHTM là loại hình doanh nghiệp đặc thù do đối tượng kinh doanh là tiền và các dịch vụ gắn liền với tiền được Luật đầu tư qua các thời kỳ xếp vào danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện. NHTM thực hiện các hoạt động ngân hàng có tính chất chuyên môn nghiệp vụ yêu cầu nhân sự phải học tập và có năng lực nhất định nên người ta thường dùng từ “nghiệp vụ” ghép vào hoạt động của ngân hàng thương mại cụ thé như nghiệp vụ cho vay, nghiệp vụ bao lãnh, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vu thư tín dụng, nghiệp vụ trung gian thanh toán, nghiệp vụ mua bán vàng miếng.

« Cac hoạt động nghiệp vu của ngân hàng thương mại nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận nên dễ dàng xác định hoạt động ngân hàng thương mại là hành vi thương mại, là hoạt động kinh doanh cần có vốn riêng và tự chủ về tài chính. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại có tính nhạy cảm, tác động lớn trực tiếp đến an ninh tiền tệ, đời sống kinh tế-xã hội. Từ chức năng của mình, NHTM Việt Nam hiện tai và tương lai gần vẫn đảm nhận nhiệm vụ quan trọng trong nền kinh tế như sau: NHTM phát huy vai trò là cầu nối giữa người tạm thời thừa vốn và tạm thời thiếu vốn. Khi thực hiện vai trò trung gian tài chính này, ngân hàng thu được lợi nhuận - chênh lệch giữa phần lãi thu được đối với hoạt động bán vốn và lãi phải trả trong trường hợp ngân hàng đi mua vốn.

- NHTM với là thủ quỹ và thực hiện thanh toan cho các khách hàng. Ngân hàng nhận nhiệm vụ giữ tiền cho khách hàng, thường xuyên cung cấp địch vụ thanh toán giữa những khách hàng trong ngân hàng, khác ngân hàng. Với vai trò này, ngân hàng giúp cho các chủ thê tham gia tiết kiệm chỉ phí, thời gian, đảm bảo an toàn. - NHTM tạo phương tiện thanh toán vì khi ngân hàng cho vay, số dư tài khoản tiền gửi thanh toán của ngân hàng tăng lên, bằng cách đó ngân hàng đã có vai trò tạo ra phương tiện thanh toán cho khách hàng.

! Khoản 23 Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng 2024; 12 - Thông qua dich vụ bảo lãnh, NHTM cam kết trả nợ thay cho khách hàng khi khách hàng mất khả năng thanh toán. - NHTM giữ vai trò là đại lý, thay mặt khách hang quan lý và bảo vệ tài san của họ, phát hành hoặc chuộc lãi chứng khoản. Khi đó, ngân hàng được coi như một tổ chức ủy thác thương mại và thực hiện một số dịch vụ như đã thỏa thuận với đối tác. - NHTM tư vấn cho khách hàng, đặc biệt là tư vấn về tiết kiệm và đầu tư.

Ngày nay, ngân hang cung cấp nhiều dich vụ tư van tài chính đa dang như: Tư van tài chính cá nhân, kế hoạch tài chính cho các doanh nghiệp, cơ hội khai thác thị trưởng trong nước. Ngoài ra, NHTM còn đóng vai trò cầu nối cho việc phát triển kinh tế đối ngoại giữa các quốc gia hoặc phát huy vai trò trong việc thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ, góp phần điều tiết sự tăng trưởng ổn định nền kinh tế, cầu nối cho sự phát triển kinh tế đối ngoại giữa các quốc gia. * VỀ hoạt động ngân hàng của Ngân hàng thương mại Phạm vi hoạt động của NHTM được ghi nhận và giới hạn trong Luật các Tổ chức tín dụng qua các thời kỳ?. Hoạt động kinh doanh của NHTM tương đối rộng và giàn trải trên các lĩnh vực của doanh nghiệp nói chung, tuy nhiên trong phạm vi của đề tài này, tác giả muốn tập trung vào “hoạt động ngân hàng” của NHTM.

Trước tiên, phái hiểu bản chất của hoạt động ngân hàng, đó là: “việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cap tin dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”3. Kinh đoanh được hiéu là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình tử đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận!. Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, khi sản xuất hàng hoá phát triển kéo theo sự hình thành và phát triển của các quan hệ thương mại giữa các khu vực, giữa các quốc gia sử dụng các đồng tiền khác nhau. Việc mua, bán, trao đối hàng hoá giữa các khu vực, giữa các quốc gia sử dụng đồng tiền khác nhau làm nảy sinh nhu cầu đổi tiền.

Các thương nhân phải đổi các loại tiền của mình dé lấy các loại tiền khác thích ứng với từng quan hệ mua, bán, trao déi hàng hoá, địch vụ. Dé đáp ứng nhu cầu đối tiền của các thương nhân, xã hội xuất hiện tầng lớp thương nhân mới đó là những ? Khoản 1 Điều 99 Luật các Tổ chức tín dụng 2024; 3 Khoản 17, Điều 4 Luật các Tô chức tín dụng 2024; * Khoản 21 Điêu 4 Luật doanh nghiệp 2020; 13 người làm nghề đổi tiền. Ban đầu tầng lớp thương nhân mới này chỉ thuần tuý làm nghề đổi tiền nhưng dần dần do nhu cầu của khách hàng và chức năng của việc đổi tiền giúp họ thực hiện thêm các dịch vụ khác như nhận tiền gửi, cho vay. Cùng với sự phát triển của nền văn minh nhân loại, nghề đổi tiền và các dịch vụ kinh đoanh tiền tệ cũng phát triển trở thành một nghé kinh doanh và được gọi là nghề ngân hàng.

Ngày nay, để đáp ứng nhu cầu da dang của tô chức, cá nhân trong môi trường kinh tế phát trién sôi động, với sự phát triển của khoa học và công nghệ, hoạt động ngân hàng trở nên đa dạng và phức tạp hơn từng ngày. Trong hoạt động xây dựng pháp luật, việc chuẩn hoá khái niệm “hoạt động ngân hàng” có tác dụng lớn trong việc xác định phạm vi áp dụng đạo luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng và tạo cơ sở xử lý đối với hành vi hoạt động ngân hàng khi chưa được cấp phép. Chính vì vậy, trong đạo luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh ngân hàng của nhiều nước có điều luật ghi nhận hoạt động nào là hoạt động ngân hàng. Luật các tô chức tín dụng Việt Nam có sự phân tách hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh khác của các NHTM.

Hoạt động ngân hàng của NHTM bao gồm: 1. Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác. Phát hành chứng chỉ tiền gửi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ