chương 1, khung pháp luật về hoạt động ngân hàng của Ngân hàng thương mại trong bối cảnh chuyến đổi số trên thực tế là một bộ phận của pháp luật ngân hàng, bởi lẽ về bản chất sản phẩm, dịch vụ mà các NHTM truyền thống cung cấp là giống nhau chỉ khác nhau về hình thức cung cấp, do đó sẽ phái chịu sự điều chỉnh như nhau từ pháp luật. Và trên thực tế, khi nghiên cứu quy định về hoạt động ngân hàng của Ngân hàng thương mại trong bối cánh chuyền đổi số của một số các quốc gia châu Á, có thê thấy về cơ bản các quy định là tương tự với ngân hàng truyền thống. Do đó, khi xây dựng khung pháp luật về hoạt động ngân hàng của Ngân hàng thương mại trong bối cảnh chuyển đổi số cần đảm bảo tính đồng bộ và phù hợp với các quy định trong luật ngân hàng và các văn bản hướng dẫn cũng như các quy định của pháp luật Việt Nam nói chung. Về cơ bản, các quy định trong luật ngân hàng sẽ mang tính nguyên tắc, nền tảng cho hoạt động của Ngân hàng số; các văn bản pháp luật về hoạt động ngân hàng của Ngân hàng thương mại trong bối cảnh chuyên đổi số 190 sẽ mang tính cụ thê, chỉ tiết.
Trong một số trường hợp, các quy định về hoạt động ngân hang của Ngân hàng thương mai trong bối cảnh chuyển đổi số có thé mang tính đặc thù, riêng biệt nhưng vẫn cần đảm bảo tính thống nhất với các quy định chung của pháp luật. Ở một khía cạnh khác, các khung pháp luật về hoạt động ngân hàng của Ngân hàng thương mai trong bối cảnh chuyển đổi số cũng cần tương thích với các thông lệ và chuẩn mực quốc tê về hoạt động ngân hàng nói chung và chuyển đổi số nói riêng. Ba là, việc xây dựng khung pháp luật về hoạt động ngân hàng của Ngân hàng thương mại trong bỗi cảnh chuyến đối số tại Việt Nam can bảo đảm tinh công khai, mình bạch, an toàn, hiệu quả và công bằng và bảo vệ tốt nhất quyền lợi của người tiêu dùng và gắn với sự phát triển của fintech. Đảm bảo tính công khai, minh bạch, an toàn trong trong các quy định pháp luật về hoạt động ngân hàng của Ngân hàng thương mại trong bối cảnh chuyển đổi số à vô cùng quan trọng.
Ngoài ra, các quy định của pháp luật về hoạt động ngân hàng của Ngân hàng thương mại trong bối cảnh chuyển đổi số cũng cần đảm bao tính công bằng và hiệu quả. Tính hiệu quả được thể hiện qua việc pháp luật phải tạo điều kiện cho các NHShoat động và phát triển dễ dàng, thuận lợi. Do đó, nếu như không có các quy định pháp luật mang tính hỗ trợ, thử nghiệm, nới lỏng thì hoạt động ngân hàng của Ngân hàng thương mại trong bối cánh chuyên đổi số sẽ khó tồn tại và phát triển ở Việt Nam, đương nhiên các quy định mang tính hỗ trợ này cũng không thê vượt ngoài khuôn khổ các quy định chung của pháp luật. Các quy định pháp luật về hoạt động ngân hàng của Ngân hàng thương mại trong bối cánh chuyến đổi số cũng phải đảm bảo cho mục tiêu bảo vệ tốt nhất cho quyền lợi người tiêu dùng.
Người sử dụng các dịch vụ ngân hàng nói chung mà đặc biệt là người tiêu dùng dịch vụ hoạt động ngân hang của Ngân hàng thương mại trong bối cảnh chuyển đổi số luôn phải đối mặt với các rủi ro trong giao dịch ngân hàng trực tuyến như: lộ thông tin cá nhân, rủi ro lừa đảo, gian lận, bị phân biệt đối xử. Do đó khung pháp luật về hoạt động ngân hàng của Ngân hàng thương mại trong bối cảnh chuyển đối số phải quan tâm đến việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thông quá việc quy định cụ thể về trách nhiệm của NHTM trong việc thiết lập hạ tầng công nghệ thông tin đảm bao an toàn, hạn chê rủi ro; nghĩa vụ công khai các thông tin về sản phâm, dịch 191 vụ bao gồm loại hình sản phâm, phương thức cung ứng, rủi ro có liên quan; cách thức dé khách hàng phán hồi khi gặp sự cố, phương án xử lý khi xảy ra các rủi ro đối với khách hàng. Bên cạnh đó, khung pháp luật về hoạt động ngân hàng của Ngân hàng thương mai trong bối cảnh chuyển đối số phải gắn liền với hoạt động fintech bởi thực chất, tùy thuộc vào quy mô, khả năng tài chính và nguồn lực của mỗi ngân hàng sẽ có mức độ chuyển đổi số khác nhau, tuy nhiên thời điểm hiện tại hầu hết các ngân hàng thương mại tại Việt Nam đều đã cho ra mắt ứng dụng ngân hàng số, nỗ lực tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm số của mình. Hỗ trợ quá trình chuyển đối số ngân hàng không thể không kế đến sự đóng góp của các sản phẩm, dịch vụ công nghệ tài chính (Fintech).
Việt Nam luôn xác định đôi mới sáng tạo chuyển đối số là động lực chính để tăng trưởng nền kinh tế quốc gia và các sản phẩm, dịch vụ công nghệ tài chính (Fintech) là một phần tất yếu trong quá trình đổi mới sáng tạo và chuyền đổi số quốc gia. Chi phí để tự vận hạnh và xây dựng chuyển đổi số của NHTM là quá cao nên phần lớn các NHTM đều phải mua và thuê giải pháp công nghệ trong chuyền đổi số. DANH MỤC TÀI LIỆU 1. Nguyễn Hữu Cung (2019), Thị trường bán lẻ Việt Nam: Những xu hướng chuyên dich mới.vn/thi-truong-ban-le-viet-nam-nhung-xu- huong- chuyen-dich-moi.
OECD, Going Digital: Shaping Policies, Improving Lives. Understanding digital transformation.org/sites/5See7fe5- en/index.html?itemId=/content/component/58ee7fe5-en/ 3. OPSI, Digital Transformation. _ https://oecd-opsi.org/guide/digital- transformation/ 4.
Tài liệu hội thao khoa học cấp Ngành, Ngân hàng Nha nojéc Việt Nam “Hành lang pháp lý cho ngân hàng số tại Việt Nam”, tháng 12/2017. Tài liệu hội thảo khoa học cấp Ngành, Ngân hàng Nhà nøjớc Việt Nam “Ngành Ngân hàng Việt Nam với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, tháng 6/2018. 192 Chuyên đề 2: Pháp luật về hoạt động nhận tiền gui cua ngân hang thương mai trong boi cảnh chuyên đồi sô TS. Nguyễn Ngọc Yến? & CN.
Vũ Thị như Quỳnh!?? TOM TAT: Chuyến đối số (Digital Transformation) là khái niệm ra đời trong thời đại internet bùng nổ, đang trở nên phổ biến trong thời gian gần đây, mô tả việc ứng dụng công nghệ số (digitalize) vào tất cả các khía cạnh của doanh nghiệp. Nếu dat hiệu quả, hoạt động này sẽ thay đổi toàn diện (transformation) cách thức mà một doanh nghiệp hoạt động, tang hiệu quả hợp tác, tối ưu hóa hiệu suất làm việc và mang lại giá trị cho khách hàng và rộng hơn là cá nền kinh tế. Chuyến đổi số không chỉ là một xu thế của mọi lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực ngân hàng, tiền tệ. Bài viết nhằm phân tích một số van dé lý luận về chuyên đổi số trong hoạt động nhận tiền gửi của ngân hàng thương mại, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật về van dé này, từ đó gợi mo một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về chuyên đổi số trong hoạt động ngân hàng thương mại của tổ chức tín dụng cũng như giải pháp nhằm nâng cao hiệu qua thực hiện trên thực tế.
Từ khoá: nhận tiền gửi, pháp luật về chuyển đổi số, ngân hàng thương mại ĐẶT VẤN ĐÈ Trên thé giới, đặc biệt ở những quốc gia phát triển, chuyển đổi số đã trở thành yêu cầu mang tính tiên quyết đối với sự tồn tại và phát triển của ngành ngân hàng. Ở Việt Nam, chuyển đôi số được xem là một trong những trụ cột chính trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 — 2030 của Đại hội XIII, trong đó, lĩnh vực tài chính — ngân hàng là một trong tám lĩnh vực cần ưu tiên chuyển đối số nhăm hướng tới việc phát triển đa dạng các kênh phân phối, đối mới sáng tạo, tự động hoá quy trình cung cấp dịch vụ ngân hàng số của các tô chức tín dụng. Ngày 11/05/2021, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Quyết định số 810/QD-NHNN phê duyệt Kế hoạch chuyền déi số ngành ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Ngày 11/5 cũng được chọn là Ngày chuyển đối số ngành Ngân hàng, cùng với Ngày 10/10 hàng năm được Thú tướng Chính phủ chọn là Ngày chuyên đổi số quốc gia.
Xét trong phạm vi hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín dụng, chuyền đối số mang lại nhiều lợi ích đồng thời cũng đặt ra những khó khăn, thách thức cho tổ chức tín dụng khi thực hiện hoạt động ngân hàng. Một trong số những khó khăn, thách thức là khoảng trống trong các quy định của pháp luật về vấn đề này. Giải pháp được Thủ tướng Chính phủ đưa ra nhằm tạo nền móng chuyển đổi số là chấp nhận thử nghiệm san phẩm, giải pháp, dịch vụ, mô hình kinh doanh số trong khi quy định pháp lý chưa đầy đủ, rõ ràng, 122 Khoa Pháp luật Kinh tế, Trường Đại học Luật Hà Nội 123 Sinh viên Khoa Pháp luật kinh tê, Trường Đại học Luật Hà Nội 193 song song với việc hoàn thiện hành lang pháp lý!?!. Bởi vậy, van đề cần thiết là nhận diện, phân tích những nội dung liên quan đến chuyển đổi số trong hoạt động huy động vốn của tổ chức tín dụng mà pháp luật chưa quy định hoặc đã có quy định nhưng còn hạn chế, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện.
Những vấn đề lý luận về hoạt động nhận tiền gửi của Ngân hàng thương mại ở Việt Nam trong bối cảnh chuyến đối số. Đối với lĩnh vực ngân hàng, yêu cầu chuyển đổi số và quá trình chuyền đổi số diễn ra vô cùng mạnh mẽ. Những nghiên cứu đã công bố chỉ ra rằng, hoạt động ngân hang từ chuyển đổi số không còn cần tới hội sở chính và hàng nghìn chi nhánh, điểm giao dịch như hoạt động ngân hàng truyền thống, thay vào đó là điện thoại thông minh — sản phẩm có thé thay thé cả ATM lẫn chi nhánh'!?5. Nhìn chung, chuyến đổi số trong lĩnh vực ngân hàng là việc tích hợp số hoá và công nghệ số vào mọi lĩnh vực ngân hàng, là sự thay đổi về văn hoá, tổ chức và cách thức hoạt động của ngân hàng thông qua công nghé!”®.
Thêm vào đó, khi xác định mục tiêu của chuyên đồi số là mang lại những giá tri cao hơn trong việc sử dung dich vụ từ phía khách hàng, dễ dang nhận thấy chuyền đổi số là yêu cầu đặt ra đối với các kênh huy động vốn từ khách hàng là các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế mà các TCTD thực hiện. Ở đây, kênh huy động vốn chính và chủ yếu của NHTM là hoạt động nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân.