Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT VIÊN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 1. Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân 1. Khái niệm Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Để có quan niệm xác thực về Kiểm sát viên VKSND, trước hết cần phải tiếp cận nó như một bộ phận cấu thành của hệ thống cán bộ, công chức nhà nước và là một thuật ngữ có tính tập hợp. Cán bộ, theo quan niệm thông thường được hiểu là những người thoát ly khỏi sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp… để làm việc trong bộ máy chính quyền, đảng, đoàn thể, những người là sĩ quan trong lực lượng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, những người giữ các chức vụ lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế… Theo các văn bản quy phạm pháp luật của nước ta hiện nay, sử dụng đồng thời ba thuật ngữ: cán bộ, công chức, viên chức.
Hiến pháp năm 2013 ở Điều 8 "Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân…". Theo quy định của Hiến 14 Luan van pháp thì những người phục vụ trong các cơ quan, tổ chức nhà nước bao gồm cán bộ, công chức và viên chức. Căn cứ tại khoản 1 Điều 4 Luật Cán bộ công chức năm 2008 thì “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.” Theo quy định này thì tiêu chí xác định cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ. Những người đủ các tiêu chí chung của cán bộ, công chức mà được tuyển vào làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội thông qua bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ chức danh theo nhiệm kỳ thì được xác định là cán bộ.
Công chức là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới. Đây là khái niệm mang tính lịch sử, đồng thời phản ánh đặc sắc riêng của nền công vụ và tổ chức bộ máy nhà nước ở mỗi quốc gia. Tùy thuộc vào đặc điểm chính trị, kinh tế, xã hội và chế độ chính sách của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể mà nội dung của khái niệm công chức được hiểu theo những cách khác nhau. Theo Pháp lệnh Kiểm sát viên năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), Luật tổ chức VKSND năm 2002 và đến nay là Luật Tổ chức VKSND năm 2014 qui định thì tại Điều 74 quy định: Kiểm sát viên là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp [38].
Đồng thời, căn cứ Nghị định 60/NĐ-CP ngày 25/01/2010 quy định những người là công chức thì xác định “Công chức là công dân Việt Nam, 15 Luan van được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại Nghị định này” [4]. Theo đó, công chức trong hệ thống VKSND gồm: Phó Viện trưởng VKSND tối cao; kiểm sát viên, điều tra viên; người làm việc trong văn phòng, vụ, cục, ban và Viện nghiệp vụ thuộc VKSND tối cao; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện VKSND cấp tỉnh; kiểm sát viên, điều tra viên; người làm việc trong văn phòng, phòng thuộc VKSND cấp tỉnh; Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND cấp huyện; kiểm sát viên, điều tra viên và người làm việc trong VKSND cấp huyện. Qua phân tích các quy định trên đây, dưới góc độ luật học có thể khái quát về Kiểm sát viên VKSND như sau: Kiểm sát viên VKSND là công dân Việt Nam được bổ nhiệm vào vào ngạch Kiểm sát viên theo nhiệm kỳ để làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Đặc điểm Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân VKSND là một bộ phận trong bộ máy chính quyền nhà nước.
Kiểm sát viên VKSND là những người hoạt động theo thẩm quyền được pháp luật quy định, phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước nhân dân và cơ quan nhà nước cấp trên. Là một bộ phận quan trọng trong đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, hoạt động của Kiểm sát viên đều hướng theo mục tiêu nhiệm vụ chung. Về vị trí: Là cơ quan trong bộ máy nhà nước ta được quy định bởi nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xác lập trong Hiến pháp. Về chức năng, nhiệm vụ: Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.
16 Luan van Về tổ chức, quyền hạn: Hệ thống VKSND là một hệ thống thống nhất, bao gồm VKSND tối cao, các VKSND cấp cao, các VKSND địa phương, các VKS quân sự và được phân cấp đảm nhiệm những chức năng. Do đó, Kiểm sát viên VKSND gồm hai bộ phận, một là, chỉ thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp theo bổ nhiệm ngạch Kiểm sát viên; hai là, vừa thực hiện chức năng trên vừa giữ chức danh quản lý theo sự bỏ phiếu tín nhiệm của từng nhiệm kỳ. Về hoạt động: Thực hành quyền công tố là hoạt động của VKSND trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của nhà nước đối với người phạm tội; kiểm sát hoạt động tư pháp là kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp. Đặc điểm của Kiểm sát viên VKSND được thể hiện cụ thể sau đây: Kiểm sát viên là người thực thi pháp luật và thực hiện chức năng, nhiệm vụ kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân, bảo đảm mọi hành vi xâm phạm lợi ích của nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều phải được xử lý theo pháp luật.
Kiểm sát viên có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết, trung thực, bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, tận tụy phục vụ nhân dân; đấu tranh không khoan nhượng với mọi tội phạm và vi phạm pháp luật; kiên quyết bảo vệ Hiến pháp, pháp luật, lẽ phải và công bằng xã hội; không ngừng phấn đấu, học tập và làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn”; nghiêm chỉnh chấp hành kỷ luật, nguyên tắc tổ chức hoạt động của VKSND. Chính vì vậy, Kiểm sát viên là những người gần dân, sát dân, biết dân, vì nhân dân phục vụ nên dễ làm dân 17 Luan van tin và dân mến, có điều kiện thuận lợi trong việc thuyết phục, vận động nhân dân tuân thủ pháp luật, thực hiện đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tuy nhiên, thực tế cho thấy còn không ít Kiểm sát viên chưa toàn tâm, toàn ý với công việc được giao, trong giải quyết công việc còn thiếu trách nhiệm mà coi nhẹ kỷ cương, pháp luật. Kiểm sát viên là người có trình độ chuyên môn và có năng lực công tác.
Theo tiêu chuẩn thì Kiểm sát viên có trình độ cử nhân luật trở lên, đã hoàn thành đào tạo về nghiệp vụ kiểm sát. Kiểm sát viên hiểu biết, nắm vững và áp dụng đúng các quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc tế, các quy chế nghiệp vụ của ngành, nhất là các quy định của pháp luật trong lĩnh vực công tác được giao để giải quyết công việc được chính xác, có chất lượng, hiệu quả; vận dụng linh hoạt, nhạy bén các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn hoạt động nghiệp vụ, đồng thời biết gắn nhiệm vụ công tác được giao với yêu cầu phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng; có khả năng tham mưu, hướng dẫn pháp luật trong công tác. Ngoài ra, với tính chất công việc và yêu cầu nhiệm vụ, Kiểm sát viên có mối quan hệ công tác và tiếp xúc với nhiều người khác nhau như: Điều tra viên, Thẩm phán, Luật sư và viên chức các ban ngành có liên quan đến công việc, quần chúng hay bị can, bị cáo, đương sự … nên Kiểm sát viên còn có các kĩ năng giải quyết vấn đề, phân tích thông tin và kỹ năng báo cáo, kĩ năng tranh tụng trước tòa, hùng biện và nói trước đám đông, thuyết phục. Khi thực thi pháp luật, Kiểm sát viên tuân theo pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật và Viện trưởng Viện kiểm sát về hành vi, quyết định của mình trong việc thực hành quyền công tố, tranh tụng tại phiên tòa và kiểm sát hoạt động tư pháp.
Đây cũng là những đặc điểm khác biệt của Kiểm sát viên so với các đối tượng công chức nhà nước khác. Kiểm sát viên không có tính ổn định, là công chức trong biên chế, làm việc suốt đời (60 tuổi đối với nam và 55 tuổi đối với nữ), nhưng chức danh 18 Luan van được bổ nhiệm theo nhiệm kỳ, nếu không được bổ nhiệm thì không còn giữ chức danh Kiểm sát viên nữa; thường có sự điều động, luân chuyển. Về nghĩa vụ, trách nhiệm có tính đặc thù, chuyên trách với trách nhiệm cao, thường xuyên làm việc với đối tượng phạm tội, nhưng thực chất chế độ của Kiểm sát viên chưa được hưởng tương xứng và đầy đủ. Bên cạnh đó, có những Kiểm sát viên còn hạn chế về năng lực, trình độ, chưa nắm vững các quy định pháp luật và các quy định có liên quan nên chưa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Vị trí, vai trò của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân Trong bộ máy nhà nước, VKSND có một vị trí đặc biệt.