Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI Ở VIỆT NAM 1. Những lý luận chung về tranh chấp đất đai 1. Khái niệm về tranh chấp đất đai Trong bất cứ xã hội nào, đất đai luôn có vai trò rất quan trọng. Đất đai là nguồn tài nguyên quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế của các ngành nông, lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng… Theo Luật đất đai 1993 quy định: Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi tường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng.
Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định “ Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển của đất nước nước, được quản lý theo pháp luật [17]. Từ đó có thể thấy, đất đai có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước ta cả về hiện tại và tương lai. Tuy nhiên, sau hơn 35 năm đổi mới, nền kinh tế đất nước đã có nhiều thay đổi rõ rệt “đạt được nhiều thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử”, tuy nhiên, đất nước vẫn còn có nhiều vấn đề bức thiết phải đặt ra, trong đó có vấn đề giải quyết tranh chấp đất đai. Thực tiễn cuộc sống cho thấy còn tồn tại nhiều loại hình tranh chấp đất đai khác nhau như: tranh chấp dân sự, tranh chấp thương mại, hay tranh chấp hành chính… trong quan hệ đất đai có thể phát sinh tranh chấp đất đai giữa các cá nhân, tổ chức với người sử dụng đất hoặc có thể là tranh chấp giữa những người sử dụng đất với nhau.
Để hiểu rõ về những khái niệm liên quan đến tranh chấp đất đai, dưới góc độ pháp lý, quan điểm cá nhân, 19 góc độ học thuật thì khái niệm tranh chấp đất đai được ghi nhận dưới nhiều góc độ khác nhau như sau: Theo từ điển tiếng Việt, “Tranh chấp là đấu tranh, giằng co khi có ý kiến bất đồng thường là trong vấn đề quyền lợi giữa hai bên” [39, tr. Theo giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội ghi nhận: “Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ đất đai… các chủ thể tranh chấp đất đai chỉ là chủ thể quản lý và sử dụng đất, không có quyền sở hữu đối với đất đai” [32, tr. Theo khoản 24, Điều 3, Luật Đất đai năm 2013 quy định “ Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”[16]. Như vậy, có thể hiểu tranh chấp đất đai là khái niệm bao hàm cả tranh chấp về quyền sử dụng đất, tranh chấp về tài sản gắn liền với đất, tranh chấp về địa giới hành chính, tranh chấp về quyền và nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất và tranh chấp về mục đích sử dụng đất.
Đây là những mâu thuẫn bất đồng về quyền và nghĩa vụ về sử dụng đất giữa những người sử dụng đất với nhau hoặc giữa họ với tổ chức, cá nhân khác. Đặc điểm tranh chấp đất đai Tranh chấp đất đai có một số đặc điểm cơ bản sau đây: Một là, chủ thể của tranh chấp đất đai không phải là chủ sở hữu đất đai hay nói cách khác, chủ thể của tranh chấp đất đai chỉ có quyền sử dụng và quản lý mà không phải là chủ thể của quyền sở hữu đất đai. Đặc điểm này xuất phát từ tính đặc thù của chế độ sở hữu đất đai ở nước ta. Theo Luật Đất đai 2013, đất đai là thuộc sở hữu toàn dân.
nhà nước đại diện chủ sở hữu, Nhà nước giao đất, cho thuê đất cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình (gọi chung là người sử dụng đất) sử dụng ổn định lâu dài, 20 công nhận quyền sử dụng đất ổn định lâu dài của người đang sử dụng đất. Vì vậy, người sử dụng đất chỉ có quyền sử dụng, quản lý đất đai mà không phải là chủ sở hữu đất đai. Như vậy, chủ thể của tranh chấp đất đai là người sử dụng và quản lý đất đai. Hai là, các tranh chấp đất đai có thể phát sinh giữa những người sử dụng đất với nhau liên quan đến quyền sử dụng đất.
Các tranh chấp này diễn ra phổ biến và tồn tại ở cả khu vực nông thôn và thành thị, đặc biệt đối với các khu vực đô thị, ven đô, khu công nghiệp hoá, dịch vụ tăng nhanh làm cho đất đai ngày càng có giá trị thì loại tranh chấp đất đai này gia tăng cả về số lượng vụ việc và tính chất gay gắt, phức tạp. Hình thức tranh chấp này có thể diễn ra giữa người sử dụng đất với cơ quan nhà nước liên quan đến việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai như: tranh chấp liên quan đến bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất; tranh chấp liên quan đến cấp, đổi, sửa chữa và thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Loại tranh chấp này xuất hiện ở cả khu vực nông thôn và khu vực đô thị. Nếu không giải quyết dứt điểm, kịp thời các tranh chấp đất đai này dễ dẫn đến việc phát sinh thành “điểm nóng” tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định chính trị.
Ba là, tranh chấp đất đai phát sinh gây ra nhiều hậu quả xấu về nhiều mặt như mất ổn định về chính trị, phá vỡ mối quan hệ xã hội, gia đình, mất đoàn kết trong nội bộ nhân dân, phá vỡ trật tự quản lý đất đai, gây ra đình trệ sản xuất, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các bên tranh chấp và gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước và xã hội. Bốn là, quan hệ đất đai có liên quan đến nhiều quan hệ xã hội khác thuộc đối tượng phạm vi điều chỉnh của một số đạo luật như Bộ Luật Dân sự, Luật xây dựng, Luật nhà ở, Luật kinh doanh bất động sản… Trên thực tế tranh chấp đất đai xảy ra liên quan đến nhà ở, công trình xây dựng, cây 21 cối và vật kiến trúc khác… Nên khi giải quyết tranh chấp đất đai, cơ quan nhà nước có thẩm quyền không chỉ áp dụng Luật Đất đai mà phải sử dụng nhiều đạo luật khác có liên quan để xem xét giải quyết. Lý luận pháp luật về hoà giải tranh chấp đất đai 1. Khái niệm pháp luật hoà giải tranh chấp đất đai * Khái niệm về hoà giải Hoà giải là khái niệm được sử dụng phổ biến trong các sách, báo pháp luật ở nước ta.
Khái niệm này được tiếp cận nhiều góc độ khác nhau, dưới góc độ pháp lý có các quan niệm: Theo từ điển Luật học “ Hoà giải là tự chấm dứt việc xích mích, tranh chấp giữa các bên bằng thương lượng với nhau hoặc qua sự trung gian của một người khác. Hoà giải thì giữ gìn được sự đoàn kết giữa các bên, tránh được kiện tụng kéo dài, tốn kém và những trường hợp chỉ vì mâu thuẫn nhỏ và biến thành việc hình sự” [39]. Từ khái niệm trên có thể thấy, hòa giải là quá trình giải quyết quyết các xích mích, chấm dứt những tranh chấp giữa các bên bằng biện pháp thương lượng với nhau thông qua một bên trung gian. Hòa giải thì giữ gìn được sự đoàn kết giữa các bên, tránh kiện tụng kéo dài, tốn kém và hạn chế được sự mất ổn định về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tránh được những mâu thuẫn không đáng có.
Hòa giải bao gồm ba yếu tố cơ bản đó là: (1) Phải có tranh chấp giữa các bên; (2) Có sự thống nhất ý chí giữa các bên để giải quyết tranh chấp thông qua việc nhượng bộ của mỗi bên; (3) Trong quá trình hòa giải phải có sự tham gia bên thứ ba làm trung gian cho ý kiến và đồng thời làm chứng, công nhận thủ tục hòa giải của các bên trong tranh chấp. Nếu không có bên thứ ba thì quá trình này không được gọi là hòa giải mà đó chỉ được coi là biện pháp thương lượng giữa các bên. Hòa giải có một số đặc trung cơ bản đó là: 22 Thứ nhất, hòa giải là cách thức giải quyết tranh chấp, bất đồng mâu thuẫn giữa các bên tiến hành dựa trên việc tự thương lượng, thỏa thuận và mang tính tự nguyện. Thứ hai, chủ thể trung tâm của hòa giải là bên thứ ba - trung gian giúp cho các bên tranh chấp thỏa thuận với nhau về giải quyết tranh chấp.
Bên thứ ba có thể là luật sư, hòa giải viên, tổ chức tư vấn, chính quyền địa phương. hoặc do các bên thỏa thuận lựa chọn. Bên thứ ba có vị trí độc lập với các bên và không có liên quan về mặt lợi ích với các bên tranh chấp và không đại diện quyền lợi cho bất cứ bên nào, không có quyền đưa ra phán quyết. Thứ ba, ở Việt Nam, các bên thỏa thuận, cam kết từ kết quả của quá trình hòa giải không có giá trị bắt buộc cưỡng chế thi hành mà phụ thuộc vào thiện chí sự tự nguyện của các bên.
* Khái niệm hòa giải tranh chấp đất đai Đối với hòa giải tranh chấp đất đai là thuật ngữ được sử dụng trong các văn bản Luật Đất đai. Tuy nhiên, thuật ngữ này lại không được giải thích cụ thể trong Luật đất đai năm 2013, và trong dự thảo Luật Đất đai 2023 cũng không đề cập vấn đề này. Tuy nhiên, trên cơ sở tiếp cận về khái niệm hòa giải ở trên ta có thể hiểu: Hòa giải tranh chấp đất đai là tự chấm dứt việc xích mích, tranh chấp trong sử dụng đất giữa các bên bằng biện pháp thương lượng với nhau hoặc thông qua sự trung gian của một người khác. Như vậy, hòa giải tranh chấp đất đai là biện pháp pháp lý giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất, theo đó bên thứ ba độc lập giữ vai trò trung gian trong việc giúp các bên tranh chấp tìm kiếm các biện pháp thích hợp cho việc giải quyết tranh chấp về quyền lợi, lợi ích giữa các bên có liên quan đến quyền sử dụng đất và thương lượng với nhau về việc giải quyết quyền lợi của mình.