CHƯƠNG 1: MỘT SÓ VAN DE LÝ LUẬN VE BẢO HIEM XÃ HỘI MỘT LÀN VÀ PHÁP LUAT VE BẢO HIỄM XÃ HỘI MỘT LÀN 111. Một số van đề lý luận về bảo hiểm xã hội một lần 1. Khái niệm bảo liêm xã hội Lao động là mét phân tat yếu trong đời sông của con người. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lénin, lao đông là điều kiện cơ bản về sự tôn tai của con người; nhờ lao đông, con người đã tách khỏi giới đông vật, có thé chế ngự tự nhiên dé phục vụ lơi ích của minh; quá trình đó, con người biết chế tạo công cu lao đông, có thé phát huy khả năng và kiến thức của mình ngày càng cao dé dat năng suất lao động cao hơn.
Tat cả những điều đó da quyết định sự phát triển, tiễn bô của loài người va của xã hôi3 Trong những sinh hoạt hang ngay của con người nói chung và lao đông nói riêng, chúng ta luôn phải đối mặt với những rủi ro nhất định. Do có thé là những rủi ro ma ta không thể lường trước được như tai nạn, thiên tai hay dich bệnh Những bat trắc, rũi ro xây ra trong đời sông xã hôi đem đến cho con người những tổn that như ôm đau, mất sức lao động hoặc không có việc làm. Mặt khác, con người luôn tuân theo quy luật cuộc sông: sinh ra, trưởng thành, giả đi và chết. Như vay, cơn người không thé lao động trong suốt cuộc đời của minh ma khi đã đến giai đoan tudi gia, con người sé dan bị suy giảm và mat di khả năng lao đông.
Do vậy, muôn tôn tại, con người phải tìm ra nhiêu biên pháp phòng ngừa, hạn chế vả khắc phục những rủi ro để giảm gánh nặng, khó khăn cho bản thân và gia đình Ngoài việc tự bản thân mỗi người tự khắc phục thì người lao động cần su bảo trợ của x4 hội va một trong những cách hiệu quả nhất 1a lập quỹ dự trữ chung Đông thời, về van dé nay, C. Mác đã khẳng định: “V7 nhiều rủi ro khác nhan nên đành phải dành một số thăng dự nhất định cho quỹ BHXH đề ` Bộ Giáo duc và dio tao (2021), Giáo trinh Triết học Mác - Lêmin: đầnh cho bậc dai học hệ không clugén Lý tuận chônh trị NXB Chinh ti Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr268. 10 bảo dam cho sự mỡ rông theo kiểu lity tiễn quá trình tái sản xuất ở mức độ cần thiết, phù hop với sự phát triển của nhu cầu va tình hình tăng dan số”.* Hiện nay, với sự phát triển của xã hôi nói chung va sự phát triển của các chế độ an sinh xã hôi nói riêng, BHXH không còn là một thuật ngữ xa lạ với người dân. Theo từ điển tiếng Việt, BHXH được hiểu là một chế đô “báo đản những quyền igi vật chất cho công nhân, viên chức khi Không làm việc được vì din au, sinh Ge.
già yêu, bi tại nạn lao động. ” 5 Trong từ điển tiếng Việt, BHXH được định nghĩa dưa trên mục đích la dam bao tai chính khi người được hưởng BHXH gặp rủi ro. Tuy nhiên, khái niệm nảy chỉ dé cập đền đối tương được BHXH hỗ trợ là công nhân, viên chức. Do đó, khái niệm trong từ điển còn khá hẹp, chưa thể hiện được hết ý nghĩa của BHXH.
Trên thé giới, BHXH được coi là một bô phận câu thanh của an sinh xã hội. ILO đã đưa ra khái nệm BHXH như sau: BHXH là sự bảo vệ mà xã hôi cung cap cho các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công công, nhằm chồng lại những khó khăn về kinh tế và xã hội dẫn đền việc ngừng hoặc giảm sút đáng kể vé thu nhập gây ra bởi Gm đau, thai sản, tai nạn lao đông, bệnh nghé nghiệp, thất nghiệp, tan tật, tudi gia và chết; đông thời bao đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con® Theo quan niệm của BHXH Việt Nam, BHXH là sư bảo vệ của xã hội đối với người lao đông thông qua việc huy động các nguén đóng góp để trợ cấp cho ho, nhằm khắc phục những khó khăn về kinh tế va x4 hội do bị ngừng hoặc bị giảm thu nhập gây ra bởi Om đau, thai sản, tai nan, that nghiệp, mắt khả năng lao đông, tudi giả và chết, đồng thời, bảo dam chăm sóc y té và trợ cấp cho các 3 Nguyễn Hữu Chi (Chủ biền, 2012), Giáo trình luật an sinh xế hội, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, tr. ‘ Viên ngôn ngữ học (2009), Từ điền tiếng Việt phổ thong NXB. Phương Đông, tr33 ° ILO (1909), “Social security prin ples”, ISBNO2-2-110734-5,,tr.
11 thân nhân trong gia đình người lao đông, để góp phần én định cuộc sống của bản thân người lao đông và gia đình họ, góp phân an toàn xã hội.” Co thé thay, khái niệm về BHXH do ILO va BHXH Việt Nam đưa ra có nhiều điểm tương dong với nhau. Hai khái niệm đã khái quát được mục dich, ý nghia của bao hiểm xã hội Trong cả hai khái nệm, BHXH được coi như sự bảo vệ của xã hôi đối với cá nhân khi gặp khó khăn, rủi ro nhằm dam bảo sự an toàn về tai chính cho ho Giáo trình Luật An sinh xã hôi của Trường Đại học Luật Hà Nội đã đưa ra định nghĩa BHXH dưới góc độ kinh tế và pháp lý. “Dưới góc độ kinh tế, BHXH là phạm trù kinh té tổng hợp, là sự âm bảo thu nhập nhằm đảm bảo cuộc sông cho người lao động bị giảm hoặc mắt khả năng lao đông Dưới góc độ pháp if, BHXH là tông hop những quy đinh của Nhà nước, guy định các hình thức Adm bdo điều kiện vật chất và tinh than cho người lao động và trong một số trường hop là thành viên gia đình khi ho bị giảm hoặc mat khả năng lao động” § Theo đó, BHXH đã được tiếp can đưới hai góc độ khác nhau. Khái niệm BHXH có thé được tiếp cân đưới các góc độ với nội dung khác nhau la bởi trước khi có Luât BHXH, không có văn ban pháp ly nào quy định cụ thé khái niệm BHXH, bên cạnh đó, góc tiếp cận khác nhau còn do nhu câu nghiên cứu khác nhau.
Trong quy định pháp luật hiện hành, BHXH được định nghĩa tại khoản 1 Điều 3 Luật BHXH 2014: “BHXH là sự bảo dam thay thé hoặc bù đắp một phần tìm nhập của người iao động khi ho bi giảm hoặc mat thu nhập do ốm dau, thai sản, tai nan ìao động. bệnh nghề nghiệp, hắt tudi lao động hoặc chất, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH”. ` Nguyễn Chí Công 2019), Để đt xử lý vi phưm trong finh vực BHIH báo hiểm ytế, bảo Hễu thất nghiệp - ‘duce mrang và giã pháp, Toa im Nhân dân tôi cao, HÀ Nội, tr24. * Trường Daihoc Luật Hà Nội (2022), Giáo inh Luật An sinh xã hột NOB.
Tư Pháp, Hà Noi,tr 92 12 Như vay, da được xem xét đưới nhiêu góc độ với nhiều định nghĩa từ nhiều tác giả, nhìn chung, những định nghĩa nay cơ bản đều có sự thông nhất với nhau. Từ phân tích trên, có thé hiểu, BHXH lả một bô phân của hệ thông an sinh x4 hội nhằm bù đắp, dam bao thu nhập cho người lao đông hoặc người thân của họ khi người lao đông bị suy giảm hay mat kha năng lao động dựa trên sự đóng góp vào quỹ BHXH. Bảo hiểm xã hội là một nội dung của hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam? được xem như trụ cột của an sinh xã hôi, được đặt ra nhằm mục dich bao vệ thu nhập của người lao động trước những rủi ro, biển có. Thu nhập ở đây có thể hiểu a tiền công, tiên lương, hay thu nhập khác tir việc lao động.
Sự hỗ trợ nảy được thực hiện thông qua quỹ tai chính chung, huy đông từ su dong gop của người lao động, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ từ phía nhà nước 1. Khái niệm, ý nghĩa của bảo hiểm xã hội một lan - Khái niệm bảo hiém xã hội môt ian Khác với BHXH nói chung, có rat ít công trình nghiên cứu chỉ ra khái niệm cu thé của BHXH một lần và cũng chưa có quy định nao đưa ra khái niêm nay Theo khái niệm được đưa ra bởi ILO, BHXH một lan là một phương án thay thé cho phép moi người nhận toản bộ phúc lợi của mình dưới dang một khoản thanh toán duy nhất trước khi nghĩ hưu 10 Tuy nhiên, đây la khái niệm được đưa ra trong một nghiên cửu về tình hình rút bảo hiểm xã hội ở Việt Nam. Trong văn bản pháp lý của ILO, BHXH một lần không được nhắc tới và không được coi là mét phan của chế độ trợ cap tuôi giả (trong đó chê độ hưu tri) được quy định trong công ước số 102 bởi mục tiêu chính của chế đô hưu trí là hướng tới chế đô tương hưu hang tháng. ` Trường Daihoc Luật Hà Nội (2022), Giáo minh Luật An sinh xã hột NB.
Tự Pháp, Hà Nội,tr23 ‘© Intemational Labour Organization é: World Bank (2023), Social msuranxce iianp-sim viữjtvarals in Viet Mau Trends, challenges and recommendations , Joxt technical brief , Viewum, tr. 13 Khái niệm về BHXH một lần cũng đã từng được đề cập tai nghiên cứu “Thực trạng và giải pháp giảm tình trang hưởng BHXH một lần ở Việt Nam” của tác giả Lê Thị Qué, năm 2022, Viện khoa hoc BHXH. Theo đó, BHXH một lân được hiểu là “khodn tiền được chi trả duy nhất một lần cho người lao đông chua đủ điều kiện hướng lương hun khủ họ có yêu cầu, trên cơ sở những đóng góp của ho vào qHẾ hưu trí và theo quay dink của pháp luật”. Theo đó, BHXH một lan được hiểu la một “khoản tiên” và điều kiện chi trả gắn liên với việc người lao đông chưa đủ điều kiện hưởng lương hưu BHXH một lần được đặt ra với mục đích đảm bảo quyên lợi cho người lao đông tham gia BHXH, chưa đủ điều kiện hưởng lương hưu mà cần có su hỗ trợ tài chính từ Nhà nước hoặc vi lý do khác ma người lao động không có điều kiện hưởng lương hưu hang thang.
Tuy nhiên, quá nhiêu người lao đông rút BHXH một lần có thé gây mat an toản quỹ BHXH, ảnh hưởng tới chính sách an sinh xã hội va mục tiêu thực hiện ché đô BHXH toản dân của nước ta. Do đó, pháp luật đặt ra những điều kiện nhất định ma người lao động phải đáp ứng mới được rút BHXH một lần.