Luận văn pháp luật trợ giúp pháp lý cho người nghèo - ĐH Quốc gia HN

Luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu pháp luật trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách xã hội. Phân tích thực trạng, đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Tác giả

Hoàng Thị Liên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ Luật học

2015

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách hiểu đúng về pháp luật trợ giúp pháp lý cho người nghèo

Pháp luật trợ giúp pháp lý cho người nghèo là hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những cá nhân thuộc diện khó khăn, không có khả năng chi trả chi phí pháp lý. Khái niệm này được cụ thể hóa trong Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Theo luận văn thạc sĩ của Hoàng Thị Liên (2015), trợ giúp pháp lý không chỉ đơn thuần là hỗ trợ tư vấn pháp luật mà còn bao gồm đại diện, bào chữa trong tố tụng dân sự, hình sự và hành chính. Người nghèo – đối tượng hưởng lợi chính – được xác định theo chuẩn nghèo do Chính phủ ban hành, thường xuyên cập nhật để phản ánh thực trạng kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó, các đối tượng chính sách xã hội khác như người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, trẻ em, người cao tuổi cũng được đưa vào diện được trợ giúp pháp lý miễn phí. Việc xây dựng khung pháp luật về trợ giúp pháp lý phù hợp với Hiến pháp và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo công bằng xã hội và tiếp cận công lý. Thực tiễn cho thấy, dù đã có nhiều tiến bộ, song hệ thống pháp luật này vẫn còn thiếu tính đồng bộ và chưa bám sát nhu cầu thực tế của người dân.

1.1. Khái niệm trợ giúp pháp lý theo pháp luật Việt Nam

Theo Điều 2 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006, trợ giúp pháp lý là hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác. Dịch vụ này bao gồm: tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng, đại diện hoặc bào chữa trong tố tụng. Đây là quyền cơ bản được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013, thể hiện cam kết của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền con người và quyền công dân.

1.2. Ai là người nghèo và đối tượng được hưởng trợ giúp pháp lý

Người nghèo được xác định theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều. Ngoài ra, đối tượng chính sách xã hội như người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng sâu, vùng xa; người khuyết tật; nạn nhân chất độc da cam; người nhiễm HIV/AIDS; trẻ em dưới 16 tuổi không nơi nương tựa… đều thuộc diện được trợ giúp pháp lý miễn phí. Đây là nhóm salient entity quan trọng trong hệ thống an sinh pháp lý.

II. Những thách thức lớn trong thực thi pháp luật trợ giúp pháp lý

Mặc dù đã có khung pháp lý tương đối đầy đủ, việc triển khai pháp luật trợ giúp pháp lý cho người nghèo trên thực tế vẫn gặp nhiều rào cản. Một trong những hạn chế nổi bật là hệ thống tổ chức trợ giúp pháp lý chưa phủ khắp các địa phương, đặc biệt tại vùng sâu, vùng xa. Theo nghiên cứu của Hoàng Thị Liên (2015), nhận thức của người dân về quyền được trợ giúp pháp lý miễn phí còn thấp, dẫn đến tình trạng nhiều người có nhu cầu nhưng không biết cách tiếp cận. Bên cạnh đó, đội ngũ trợ giúp viên pháp lý còn mỏng, thiếu đào tạo chuyên sâu và chưa có cơ chế đãi ngộ phù hợp, khiến nguồn nhân lực này khó duy trì và phát triển. Thêm vào đó, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và luật sư hành nghề trong hoạt động trợ giúp pháp lý còn rời rạc, thiếu liên kết. Nhiều quy định trong Luật Trợ giúp pháp lý chưa rõ ràng, gây khó khăn trong áp dụng, đặc biệt trong các vụ án hình sự phức tạp. Những bất cập này làm giảm hiệu quả của chính sách an sinh pháp lý, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tiếp cận công lý của người nghèo.

2.1. Hạn chế về nhận thức và tiếp cận dịch vụ pháp lý

Nhiều người nghèo không biết mình có quyền được trợ giúp pháp lý miễn phí hoặc không hiểu rõ quy trình yêu cầu hỗ trợ. Điều này dẫn đến tình trạng họ bỏ lỡ cơ hội bảo vệ quyền lợi trước tòa. Các chiến dịch truyền thông về trợ giúp pháp lý còn mang tính hình thức, chưa đi vào chiều sâu và chưa sử dụng ngôn ngữ phù hợp với từng nhóm đối tượng.

2.2. Thiếu hụt nguồn lực và cơ chế phối hợp yếu kém

Nguồn kinh phí cho hoạt động trợ giúp pháp lý chủ yếu từ ngân sách nhà nước, chưa huy động được sự tham gia của khu vực tư nhân và tổ chức phi chính phủ. Đồng thời, trợ giúp viên pháp lý thường phải kiêm nhiệm nhiều vai trò, dẫn đến quá tải và giảm chất lượng dịch vụ. Cơ chế phối hợp giữa Trung tâm trợ giúp pháp lý và Tòa án, Viện kiểm sát còn lỏng lẻo, làm chậm trễ thủ tục tố tụng.

III. Phương pháp hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý cho người nghèo

Để nâng cao hiệu quả của pháp luật trợ giúp pháp lý cho người nghèo, cần tập trung vào ba trụ cột: hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường nguồn lực và đổi mới cơ chế vận hành. Trước hết, cần sửa đổi Luật Trợ giúp pháp lý theo hướng mở rộng đối tượng thụ hưởng, làm rõ thẩm quyền và trách nhiệm của các bên liên quan. Thứ hai, cần xây dựng cơ chế tài chính bền vững, khuyến khích luật sư, đoàn luật sư và tổ chức xã hội tham gia thông qua ưu đãi thuế, hỗ trợ đào tạo và công nhận đóng góp nghề nghiệp. Thứ ba, ứng dụng công nghệ thông tin để số hóa dịch vụ trợ giúp pháp lý, giúp người dân dễ dàng đăng ký và theo dõi hồ sơ trực tuyến. Theo đề xuất trong luận văn của Hoàng Thị Liên (2015), việc chuẩn hóa quy trình trợ giúp pháp lý và thiết lập hệ thống giám sát, đánh giá độc lập sẽ giúp nâng cao minh bạch và hiệu quả. Đồng thời, cần tích hợp hoạt động trợ giúp pháp lý vào chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, tạo sự liên kết đa ngành.

3.1. Sửa đổi luật để mở rộng phạm vi và đối tượng trợ giúp

Luật hiện hành nên được bổ sung để bao gồm cả người cận nghèo và nhóm dễ tổn thương chưa được liệt kê. Cần quy định rõ hơn về lĩnh vực pháp luật được trợ giúp, đặc biệt trong các tranh chấp đất đai, lao động và hôn nhân – gia đình – những lĩnh vực phổ biến nhất theo biểu đồ thống kê trong luận văn (Biểu đồ 2.2).

3.2. Xây dựng cơ chế huy động nguồn lực đa dạng

Bên cạnh ngân sách nhà nước, cần khuyến khích sự tham gia của luật sư hành nghề, tổ chức phi chính phủ và doanh nghiệp thông qua các chương trình trợ giúp pháp lý cộng đồng. Cơ chế “giờ pháp lý miễn phí” (pro bono) nên được pháp điển hóa và ghi nhận trong đánh giá nghề nghiệp của luật sư.

IV. Ứng dụng thực tiễn và bài học từ các mô hình thành công

Trên thế giới, nhiều quốc gia đã xây dựng mô hình trợ giúp pháp lý hiệu quả, có thể tham khảo cho Việt Nam. Ví dụ, mô hình “Legal Aid Board” của Anh hay “Public Defender System” của Mỹ cho thấy vai trò then chốt của nhà nước trong việc đảm bảo nguồn lực và tính chuyên nghiệp. Tại châu Á, Ấn Độ và Indonesia áp dụng mô hình kết hợp giữa nhà nước và tổ chức xã hội dân sự, tạo ra mạng lưới hỗ trợ linh hoạt và gần dân. Ở Việt Nam, một số địa phương như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng đã thí điểm trung tâm trợ giúp pháp lý tích hợp với dịch vụ công, cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc nâng cao tỷ lệ tiếp cận. Theo số liệu trong luận văn (Biểu đồ 2.1), số lượng người được trợ giúp pháp lý tăng 27% sau khi áp dụng mô hình này. Đặc biệt, việc lồng ghép trợ giúp pháp lý vào hoạt động của hội phụ nữ, hội nông dân và già làng, trưởng bản ở vùng dân tộc thiểu số đã giúp vượt qua rào cản ngôn ngữ và văn hóa. Những bài học thực tiễn này chứng minh rằng, khi pháp luật được triển khai sát với đời sống, hiệu quả an sinh pháp lý sẽ được nâng cao đáng kể.

4.1. Mô hình trợ giúp pháp lý hiệu quả trên thế giới

Các mô hình tổ chức trợ giúp pháp lý ở phương Tây nhấn mạnh tính chuyên nghiệp và độc lập. Trong khi đó, các nước đang phát triển ưu tiên tính linh hoạt và gần gũi cộng đồng. Việt Nam có thể chọn hướng lai giữa: giữ vai trò chủ đạo của nhà nước nhưng mở cửa cho sự tham gia của xã hội dân sự.

4.2. Kinh nghiệm từ các địa phương tiên phong ở Việt Nam

Tại Hà Giang, mô hình “trợ giúp pháp lý lưu động” đã tiếp cận hàng nghìn hộ dân tộc thiểu số, giải quyết tranh chấp đất đai và hôn nhân. Đây là minh chứng cho việc ứng dụng thực tiễn sáng tạo dựa trên đặc thù địa phương, đồng thời khẳng định vai trò của trợ giúp viên pháp lý như cầu nối giữa pháp luật và người dân.

V. Tương lai của pháp luật trợ giúp pháp lý cho người nghèo ở Việt Nam

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số, pháp luật trợ giúp pháp lý cho người nghèo cần được định hướng theo ba xu thế: số hóa, xã hội hóa và chuẩn hóa. Số hóa giúp mở rộng phạm vi tiếp cận, đặc biệt với người dân ở vùng sâu, vùng xa thông qua nền tảng trực tuyến và tổng đài tư vấn. Xã hội hóa khuyến khích khu vực tư nhân và tổ chức phi lợi nhuận tham gia, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Chuẩn hóa đảm bảo chất lượng dịch vụ đồng đều trên toàn quốc, thông qua khung năng lực và quy trình nghiệp vụ thống nhất. Theo khuyến nghị của GS.TSKH Đào Trí Úc – người hướng dẫn luận văn – cần đưa trợ giúp pháp lý trở thành một trụ cột trong hệ thống an sinh xã hội, ngang hàng với y tế và giáo dục. Điều này đòi hỏi cam kết chính trị mạnh mẽ và đầu tư dài hạn. Trong tương lai, khi pháp luật trợ giúp pháp lý được hoàn thiện và vận hành hiệu quả, quyền tiếp cận công lý sẽ không còn là đặc quyền của người giàu, mà là quyền phổ quát của mọi công dân – đặc biệt là những người yếu thế trong xã hội.

5.1. Xu hướng số hóa dịch vụ trợ giúp pháp lý

Các nền tảng như Cổng thông tin trợ giúp pháp lý quốc gia, ứng dụng di động và chatbot AI có thể cung cấp tư vấn pháp luật miễn phí 24/7. Đây là bước đột phá giúp vượt qua rào cản địa lý và thời gian, đặc biệt hữu ích cho người trẻ và người sống ở đô thị.

5.2. Vai trò của an sinh pháp lý trong phát triển bền vững

Liên Hợp Quốc xác định tiếp cận công lý là một trong những mục tiêu phát triển bền vững (SDG 16). Việc củng cố pháp luật trợ giúp pháp lý không chỉ là nghĩa vụ pháp lý mà còn là chiến lược phát triển con người, góp phần ổn định xã hội và thúc đẩy dân chủ.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. Sự nghiệp đổi mới loàu diện đãi nước đã góp phân tích cực trong việc thúc đây nên kinh tế thị trường phát triển, giải phỏng mọi năng lực sản xuất và mang lại những kết quả nổi bật trong công cuộc xoá đói, giảm nghèo, nhưng bên cạnh đó cũng tiểm Ân không ÍL những unặt liêu cực vốn có gũn nó là sự phân hỏa giàu nghèo lặng lên, vấn còn một bộ phận đăng kế người đân còn nghèo, tệ nạn xã hội phát triển, tranh chấp gia tang. Khu cẳu TGPL miễn phí cho các đổi tượng nphèo và các đổi tong chính sách xã hội khác vẫn còn lén. trong khi đỏ hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động TGPL còn chưa được hoàn Hiện, quy định pháp hiật về công tác TP, chưa thống nhất, đẳng bộ; trong một số trường hợp chưa toàn diện, kịp thời, bám sát thực tiễn dẫn đến một số quy định chua kha thi.

Thực tiễn thực hiện phép luật vẻ TGPL cũng đã bộc lộ những hạn chế bắt cập cụ thể như: hệ thông tổ chức thực hiện TGPL, vẫn chưa phủ hợp và hoạt động chưa hiệu quả, việc tham gia tố tụng của Trợ giúp viên trong thực tế còn nhiễu khó khăn, cơ chế thu hút các chủ thể TGPL cũng chỉ mới đừng lại ở mức khuyến khich tham gia, nhận thức của người dân về pháp luật TGPL còn thấp và không đồng đều nên nhiều người có hoàn. cảnh khó khăn và có nhú cầu TGPL van chưa tiếp cận được với hoạt động, này. Điểu này đã ảnh hưởng không nhỏ đẻn công tác thực hiện TGTL cũng, xu chất lượng dịch vụ TGPT, cho người nghèo và các đổi tượng chính sách xã hội khảo. %Xuất phát từ những yêu cầu như phân tích ở trên, việc nghiên cửu để tài: Pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và cdc abi tượng chính vách xã hội khác" là yêu chu khách quan, cần thiết cị phương diễn lý luận và thực tiên nhằm đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về TGPL, nâng, cao hiệu quả, phát triển hoạt động TGPL, ở Việt Nam hiện nay.

ww MO DAU 1. Tỉnh cấp thiết của đề tài RỂ từ năm 1986, Việt Nam chính thức triển hành sự nghiệp đổi mới toán diện đất nước. Cùng với việc đầy raạnh cái cách kinh tế, đổi mới hệ thống chỉnh trị, xây dựng Nhà nước pháp quyến xã hội chủ nghĩa của dan, do din va vì dân, Nhà nước Việt Nam đã thông qua Chiến hrợc toán điện về tăng trưởng và xóa đối giảm nghòo, trong đó có chính sách trợ guúp pháp lý cho người nghèo và đổi tượng chỉnh sách. Ngày 06/9/1997 Thú tướng Chính phú đã ban hành Quyết định số 734/TTg về việc thánh lập tổ chức TGPL cho người nghèo và đối tượng chỉnh sách.

Từ đó đến nay trên cơ sở Luật TGPT năm 2006 và các văn bán lướng dẫn thị hành, công tác TGPI, đá phát triển cả về chiếu rộng lẫn chiều sâu, đại được rửững kết quả quan trọng. Hệ thống tỗ chức TGPL đã được hình thánh từ trung ương đến địa phương, bao gồm Cục TGPL thuộc Bộ Tư pháp và Trung tâm TGPL ở 63 tỉnh, thành phổ trực thuộc. trung ương với đội ngũ chuyên viên và cộng tác viên TGPL đồng đão. Các tổ chức TGPI.

đã đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng ru câu giúp đỡ pháp lý của người nghỏo, đốt tương chính sách và đồng bảo dân tộc thiểu số, đồng thời, trở thành một bộ phận không thẻ thiểu trong đời sông pháp luật của xã hội. Hoat déng TGPL cho người nghẻo và đối tượng chính sách đã gớp phân thực tuện chủ trương xoá đói, giảm nghèo, đến ơn, đáp nghĩa, bảo đâm công, bằng xã hội của Đăng và Nhà nước, giúp các cơ quan tiến hành tổ tụng và gác cơ quan nhà nước khác giải quyết các vụ việc một cách khách quan, chính xáo, đảng pháp luật, giải toả những vưởng mắc pháp luật của nhân đân, góp phan ổn định tình hình chỉnh trị, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; lạo lập cơ chế bao dam công bằng xã hội, góp phân giữ vững và tặng gường pháp chế xã hội chú nghĩa. DANH MỤC BIẾU ĐỎ BIEU DO 2.1: BIEU DO THONG KE DOI TUGNG DƯỢC TGPL, BIEU DO 2.2: BIEU BO THONG KE LĨNH VUC BUOC TGPL BIEU DO 23: BIEUBO THONG KE HINH THUC THUC HIEN TGPL. 61 DANH MỤC BIẾU ĐỎ BIEU DO 2.1: BIEU DO THONG KE DOI TUGNG DƯỢC TGPL, BIEU DO 2.2: BIEU BO THONG KE LĨNH VUC BUOC TGPL BIEU DO 23: BIEUBO THONG KE HINH THUC THUC HIEN TGPL.

Tỉnh cấp thiết của đề tài RỂ từ năm 1986, Việt Nam chính thức triển hành sự nghiệp đổi mới toán diện đất nước. Cùng với việc đầy raạnh cái cách kinh tế, đổi mới hệ thống chỉnh trị, xây dựng Nhà nước pháp quyến xã hội chủ nghĩa của dan, do din va vì dân, Nhà nước Việt Nam đã thông qua Chiến hrợc toán điện về tăng trưởng và xóa đối giảm nghòo, trong đó có chính sách trợ guúp pháp lý cho người nghèo và đổi tượng chỉnh sách. Ngày 06/9/1997 Thú tướng Chính phú đã ban hành Quyết định số 734/TTg về việc thánh lập tổ chức TGPL cho người nghèo và đối tượng chỉnh sách. Từ đó đến nay trên cơ sở Luật TGPT năm 2006 và các văn bán lướng dẫn thị hành, công tác TGPI, đá phát triển cả về chiếu rộng lẫn chiều sâu, đại được rửững kết quả quan trọng.

Hệ thống tỗ chức TGPL đã được hình thánh từ trung ương đến địa phương, bao gồm Cục TGPL thuộc Bộ Tư pháp và Trung tâm TGPL ở 63 tỉnh, thành phổ trực thuộc. trung ương với đội ngũ chuyên viên và cộng tác viên TGPL đồng đão. Các tổ chức TGPI. đã đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng ru câu giúp đỡ pháp lý của người nghỏo, đốt tương chính sách và đồng bảo dân tộc thiểu số, đồng thời, trở thành một bộ phận không thẻ thiểu trong đời sông pháp luật của xã hội.

Hoat déng TGPL cho người nghẻo và đối tượng chính sách đã gớp phân thực tuện chủ trương xoá đói, giảm nghèo, đến ơn, đáp nghĩa, bảo đâm công, bằng xã hội của Đăng và Nhà nước, giúp các cơ quan tiến hành tổ tụng và gác cơ quan nhà nước khác giải quyết các vụ việc một cách khách quan, chính xáo, đảng pháp luật, giải toả những vưởng mắc pháp luật của nhân đân, góp phan ổn định tình hình chỉnh trị, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; lạo lập cơ chế bao dam công bằng xã hội, góp phân giữ vững và tặng gường pháp chế xã hội chú nghĩa. Sự nghiệp đổi mới loàu diện đãi nước đã góp phân tích cực trong việc thúc đây nên kinh tế thị trường phát triển, giải phỏng mọi năng lực sản xuất và mang lại những kết quả nổi bật trong công cuộc xoá đói, giảm nghèo, nhưng bên cạnh đó cũng tiểm Ân không ÍL những unặt liêu cực vốn có gũn nó là sự phân hỏa giàu nghèo lặng lên, vấn còn một bộ phận đăng kế người đân còn nghèo, tệ nạn xã hội phát triển, tranh chấp gia tang. Khu cẳu TGPL miễn phí cho các đổi tượng nphèo và các đổi tong chính sách xã hội khác vẫn còn lén. trong khi đỏ hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động TGPL còn chưa được hoàn Hiện, quy định pháp hiật về công tác TP, chưa thống nhất, đẳng bộ; trong một số trường hợp chưa toàn diện, kịp thời, bám sát thực tiễn dẫn đến một số quy định chua kha thi.

Thực tiễn thực hiện phép luật vẻ TGPL cũng đã bộc lộ những hạn chế bắt cập cụ thể như: hệ thông tổ chức thực hiện TGPL, vẫn chưa phủ hợp và hoạt động chưa hiệu quả, việc tham gia tố tụng của Trợ giúp viên trong thực tế còn nhiễu khó khăn, cơ chế thu hút các chủ thể TGPL cũng chỉ mới đừng lại ở mức khuyến khich tham gia, nhận thức của người dân về pháp luật TGPL còn thấp và không đồng đều nên nhiều người có hoàn. cảnh khó khăn và có nhú cầu TGPL van chưa tiếp cận được với hoạt động, này. Điểu này đã ảnh hưởng không nhỏ đẻn công tác thực hiện TGTL cũng, xu chất lượng dịch vụ TGPT, cho người nghèo và các đổi tượng chính sách xã hội khảo. %Xuất phát từ những yêu cầu như phân tích ở trên, việc nghiên cửu để tài: Pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và cdc abi tượng chính vách xã hội khác" là yêu chu khách quan, cần thiết cị phương diễn lý luận và thực tiên nhằm đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về TGPL, nâng, cao hiệu quả, phát triển hoạt động TGPL, ở Việt Nam hiện nay.

ww MO DAU 1. Tỉnh cấp thiết của đề tài RỂ từ năm 1986, Việt Nam chính thức triển hành sự nghiệp đổi mới toán diện đất nước. Cùng với việc đầy raạnh cái cách kinh tế, đổi mới hệ thống chỉnh trị, xây dựng Nhà nước pháp quyến xã hội chủ nghĩa của dan, do din va vì dân, Nhà nước Việt Nam đã thông qua Chiến hrợc toán điện về tăng trưởng và xóa đối giảm nghòo, trong đó có chính sách trợ guúp pháp lý cho người nghèo và đổi tượng chỉnh sách. Ngày 06/9/1997 Thú tướng Chính phú đã ban hành Quyết định số 734/TTg về việc thánh lập tổ chức TGPL cho người nghèo và đối tượng chỉnh sách.

Từ đó đến nay trên cơ sở Luật TGPT năm 2006 và các văn bán lướng dẫn thị hành, công tác TGPI, đá phát triển cả về chiếu rộng lẫn chiều sâu, đại được rửững kết quả quan trọng. Hệ thống tỗ chức TGPL đã được hình thánh từ trung ương đến địa phương, bao gồm Cục TGPL thuộc Bộ Tư pháp và Trung tâm TGPL ở 63 tỉnh, thành phổ trực thuộc. trung ương với đội ngũ chuyên viên và cộng tác viên TGPL đồng đão. Các tổ chức TGPI.

đã đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng ru câu giúp đỡ pháp lý của người nghỏo, đốt tương chính sách và đồng bảo dân tộc thiểu số, đồng thời, trở thành một bộ phận không thẻ thiểu trong đời sông pháp luật của xã hội. Hoat déng TGPL cho người nghẻo và đối tượng chính sách đã gớp phân thực tuện chủ trương xoá đói, giảm nghèo, đến ơn, đáp nghĩa, bảo đâm công, bằng xã hội của Đăng và Nhà nước, giúp các cơ quan tiến hành tổ tụng và gác cơ quan nhà nước khác giải quyết các vụ việc một cách khách quan, chính xáo, đảng pháp luật, giải toả những vưởng mắc pháp luật của nhân đân, góp phan ổn định tình hình chỉnh trị, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; lạo lập cơ chế bao dam công bằng xã hội, góp phân giữ vững và tặng gường pháp chế xã hội chú nghĩa. CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VẢ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ