Luận văn đại học thương mại pháp luật về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa theo luật thương mại năm 2005 thực tiễn áp dụng tại công ty tnhh bàn ghế và thiết bị thẩm mỹ hùng

Luận văn phân tích thực tiễn áp dụng hợp đồng mua bán hàng hóa theo luật thương mại 2005 tại công ty TNHH Bàn Ghế và Thiết Bị Thẩm Mỹ Hùng.

Trường đại học

Trường Đại Học Thương Mại

Chuyên ngành

Kinh Tế - Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp
55
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Pháp Luật Về Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa

Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa theo Luật Thương mại 2005 là một phần quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Hợp đồng mua bán hàng hóa không chỉ là cơ sở pháp lý cho các giao dịch thương mại mà còn là công cụ bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia. Công ty TNHH Bàn ghế Hùng Hòa, với hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất và cung cấp bàn ghế, đã áp dụng các quy định này để đảm bảo tính hợp pháp và hiệu quả trong các giao dịch của mình.

1.1. Khái Niệm Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa

Hợp đồng mua bán hàng hóa được định nghĩa là sự thỏa thuận giữa bên bán và bên mua về việc chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa. Theo Luật Thương mại 2005, hợp đồng này có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, từ hợp đồng bằng văn bản đến hợp đồng miệng.

1.2. Các Quy Định Cơ Bản Về Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa

Luật Thương mại 2005 quy định rõ các điều khoản cơ bản trong hợp đồng mua bán hàng hóa, bao gồm quyền và nghĩa vụ của các bên, điều kiện giao hàng, và phương thức thanh toán. Những quy định này giúp các bên có thể thực hiện hợp đồng một cách hiệu quả và tránh được các tranh chấp.

II. Thực Trạng Áp Dụng Pháp Luật Tại Công Ty TNHH Bàn Ghế Hùng Hòa

Công ty TNHH Bàn ghế Hùng Hòa đã áp dụng các quy định của Luật Thương mại 2005 trong việc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa. Tuy nhiên, thực tế cho thấy vẫn còn nhiều thách thức trong quá trình thực hiện, từ việc ký kết hợp đồng đến việc thực hiện nghĩa vụ của các bên.

2.1. Quy Trình Ký Kết Hợp Đồng Tại Công Ty

Quy trình ký kết hợp đồng tại Công ty TNHH Bàn ghế Hùng Hòa thường bao gồm các bước như thương thảo, ký kết và lưu trữ hợp đồng. Tuy nhiên, việc thiếu sót trong khâu thương thảo có thể dẫn đến những rủi ro pháp lý cho công ty.

2.2. Thực Trạng Thực Hiện Nghĩa Vụ Hợp Đồng

Thực tế cho thấy, việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng tại công ty gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là trong việc giao hàng đúng hạn và đảm bảo chất lượng hàng hóa. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến uy tín của công ty mà còn có thể dẫn đến tranh chấp với khách hàng.

III. Những Thách Thức Trong Việc Thực Hiện Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa

Mặc dù Luật Thương mại 2005 đã cung cấp một khung pháp lý rõ ràng, nhưng việc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa tại Công ty TNHH Bàn ghế Hùng Hòa vẫn gặp phải nhiều thách thức. Những thách thức này có thể đến từ cả yếu tố chủ quan và khách quan.

3.1. Yếu Tố Chủ Quan Ảnh Hưởng Đến Thực Hiện Hợp Đồng

Yếu tố chủ quan như năng lực của nhân viên, quy trình làm việc chưa hiệu quả có thể dẫn đến việc thực hiện hợp đồng không đúng thời hạn hoặc không đạt yêu cầu chất lượng. Điều này cần được cải thiện để nâng cao hiệu quả kinh doanh.

3.2. Yếu Tố Khách Quan Ảnh Hưởng Đến Thực Hiện Hợp Đồng

Các yếu tố khách quan như biến động thị trường, thay đổi trong quy định pháp luật cũng có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng. Công ty cần có các biện pháp ứng phó kịp thời để giảm thiểu rủi ro.

IV. Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Thực Hiện Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa

Để nâng cao hiệu quả thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa, Công ty TNHH Bàn ghế Hùng Hòa cần áp dụng một số giải pháp cụ thể. Những giải pháp này không chỉ giúp cải thiện quy trình làm việc mà còn bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan.

4.1. Cải Thiện Quy Trình Ký Kết Hợp Đồng

Công ty cần xây dựng một quy trình ký kết hợp đồng rõ ràng và chặt chẽ hơn, bao gồm việc đào tạo nhân viên về các quy định pháp luật liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa.

4.2. Tăng Cường Đào Tạo Nhân Viên

Đào tạo nhân viên về các quy định pháp luật và kỹ năng thương thảo hợp đồng sẽ giúp nâng cao năng lực thực hiện hợp đồng, từ đó giảm thiểu rủi ro và tranh chấp.

V. Kết Luận Về Pháp Luật Về Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa

Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa theo Luật Thương mại 2005 đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các giao dịch thương mại. Công ty TNHH Bàn ghế Hùng Hòa cần tiếp tục cải thiện quy trình thực hiện hợp đồng để đảm bảo tính hợp pháp và hiệu quả trong hoạt động kinh doanh.

5.1. Tầm Quan Trọng Của Pháp Luật Trong Giao Dịch Thương Mại

Pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi của các bên mà còn tạo ra một môi trường kinh doanh công bằng và minh bạch. Điều này rất cần thiết cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

5.2. Định Hướng Tương Lai Của Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa

Trong tương lai, việc hoàn thiện các quy định pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ giúp nâng cao hiệu quả kinh doanh và giảm thiểu tranh chấp. Công ty cần chủ động cập nhật và áp dụng các quy định mới để duy trì sự cạnh tranh.

25/07/2025
Luận văn đại học thương mại pháp luật về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa theo luật thương mại năm 2005 thực tiễn áp dụng tại công ty tnhh bàn ghế và thiết bị thẩm mỹ hùng

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa. Khái niệm về hàng hóa, mua bán hàng hóa. Hàng hoá theo nghĩa rộng được hiểu là sản phẩm lao động của con người, được tạo ra nhằm mục đích trao đổi để thoả mãn những nhu cầu mang tính xã hội.

Nhu cầu của con người rất phong phú và biến thiên liên tục vì vậy hàng hoá luôn phát triển phong phú và đa dạng. Theo định nghĩa của pháp luật hiện hành Việt Nam tại Điều 3 - khoản 2 - LTM năm 2005 thì “Hàng hoá bao gồm: Tất cả các loại động sản, kể cả bất động sản hình thành trong tương lai, những vật gắn liền với đất đai”. Theo cách hiểu phổ biến thì mua bán hàng hóa là những hoạt động trao đổi hay giao lưu hàng hóa, dịch vụ dựa trên cơ sở thuận mua vừa bán. Đối với các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất, khi nói đến hành vi mua bán chính là nói đến hoạt động giao dịch buôn bán liên quan đến việc mua sắm vật tư kỹ thuật cho sản xuất (thương mại đầu vào) và quá trình tiêu thụ sản phẩm (thương mại đầu ra).

Đối với doanh nghiệp, mỗi sản phẩm được sản xuất ra là nhằm để bán cho người tiêu dùng. Hoạt động mua bán hàng hóa là một bộ phận chủ yếu của hoạt động thương mại và được định nghĩa tại Khoản 8 - Điều 3 - LTM 2005 thì: Mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận". Hàng hóa theo quy định của LTM 2005 có thể là hàng hóa hiện đang tồn tại hoặc hàng hóa sẽ có trong tương lai; hàng hóa có thể là động sản hoặc bất động sản được phép lưu thông thương mại. Về cơ bản, hoạt động thương mại ở tất cả các nước đều diễn ra dưới hai hình thức: mua bán nội địa và mua bán quốc tế, về bản chất đều là những hoạt động mà trong đó người bán có nghĩa vụ chuyển giao hàng hóa, dịch vụ cho người mua.

Còn người mua có nghĩa vụ chuyển cho người bán một khoản ngang bằng với giá trị hàng hóa, dịch vụ được trao đổi. Như vậy dựa vào khái niệm tại khoản 8 - Điều 3 LTM 2005 thì hành vi mua bán hàng hóa thể hiện mối quan hệ kinh tế giữa các cá nhân, các đơn vị kinh doanh hợp pháp có khả năng và nhu cầu về hàng hóa và đồng thời đó cũng là quan hệ pháp luật ràng buộc trách nhiệm giữa người mua và người bán. Mối quan hệ này có sự tương xứng về quyền và nghĩa vụ. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa. Có thể nói, hợp đồng nói chung cũng như hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng xuất hiện từ rất lâu đời; nó được điều chỉnh bởi rất nhiều văn bản luật khác nhau theo sự phát triển của đất nước 1. Lịch sử hình thành pháp luật về hợp đồng. - Những quy định của pháp luật về hợp đồng ở giai đoạn trước 1995: Trong những năm đầu dành được chính quyền, pháp luật của Việt Nam dân chủ cộng hoà còn sử dụng nhiều hình thức pháp luật cũ, do vậy pháp luật hợp đồng cũng tồn tại trong nhiều văn bản pháp luật của giai đoạn Pháp thuộc để lại.

Ngày 10/10/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 90/SL cho phép tạm sử dụng một số luật lệ hiện hành ở Bắc - Trung - Nam cho đến khi ban hành những bộ luật duy nhất cho toàn quốc nếu "những luật lệ ấy không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chỉnh thể dân chủ cộng hòa". Đồng thời, các Bộ luật Dân sự Nam Kỳ giản yếu 1883; Bộ dân luật Bắc Kỳ 1931 và Bộ dân luật Trung Kỳ (Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật) 1936 được tiếp tục thi hành. Như vậy, tại ba miền Bắc - Trung - Nam tồn tại ba bộ dân luật 1883, 1931, 1936. Tiếp đó, ngày 22/5/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 97/SL "Sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật", việc này có ý nghĩa đặc biệt trong sự phát triển của luật dân sự.

Sắc lệnh này một mặt không hủy bỏ nhưng quy định của các bộ dân luật cũ, mặt khác nó bổ sung, thay đổi làm cho các bộ luật của "đế quốc phong kiến" có nội dung mới, đáp ứng yêu cầu hiện tại của các vấn đề luật dân sự và đặc biệt là các vấn đề về hợp đồng, đem đến những biến đổi thực sự trong cách thức sinh hoạt và tư tưởng của nhân dân Việt Nam; đặt cơ sở, những nguyên tắc cơ bản cho sự hình thành và phát triển của luật dân sự - pháp luật dân sự của một nhà nước độc lập, có chủ quyền. "Khi lập ước mà có sự tổn thiệt do sự bóc lột của một bên vì điều kiện kinh tế của hai bên chênh lệch thì khế ước có thể bị coi là vô hiệu" (Điều 13)… Đây cũng là giai đoạn các đơn vị kinh tế cơ quan, xí nghiệp nhà nước, kinh tế thị trường tiến hành song song với hoạt động kinh tế tư nhân. Để thu hút mọi hoạt động kinh tế và xây dựng quan hệ sản xuất mới – qun hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Thủ tướng đã ban hành Nghị định 735/TTg ngày 10/4/1957, kèm theo nghị định là bản điều lệ tạm thời về hợp đồng kinh doanh.

Nội dung chính của bản điều lệ quy định tính chất các quan hệ hợp đồng giữa các đơn vị kinh tế kinh doanh hợp tác xã, công ty hợp doanh, tư doanh Việt Nam và ngoại kiều kinh doanh trên đất Việt Nam. Nội dung chính của điều lệ kèm theo Nghị định 735/TTg đã đề cập tới hợp đồng kinh doanh, hợp đồng kinh doanh được thiết lập trên phương thức hai hay nhiều đơn vị kinh doanh tự nguyện ký kết với nhau để thực hiện các mục đích nhất định, nhằm phát triển kinh 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com doanh công nghiệp và thương nghiệp, góp phầm thực hiện những công việc của nhà nước giao cho. Hợp đồng kinh doanh được xây dựng trên nguyên tắc các bên tự nguyện ký kết, cùng có lợi và đem lại lợi ích cho nền kinh tế quốc dân. Nội dung của điều lệ còn quy định thêm một bên tham gia ký kết hợp đồng kinh doanh là tư doanh, tuy nhiên các hợp đồng kinh doanh có tư doanh tham gia phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền (thông thường là cơ quan công thương tỉnh hay Ủy ban hành chính cấp huyện).

Điều lệ tạm thời về hợp dòng kinh doanh của Nghị định 735/TTg ngày 10/04/1975 đã đóng góp một phần nhất định trong viẹc khai thác các thành phần kinh tế vào phát triển chung của nền kinh tế đất nước, cải tạo quan hệ cũ và từng bước xây dựng quan hệ mới Hiến pháp năm 1959 ra đời đánh dấu một giai đoạn phát triển của quá trình lập pháp Việt Nam, Hiến pháp của Nhà nước dân chủ cộng hòa, Hiến pháp của thời kỳ xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước. Xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đã đặt ra yêu cầu "xoá bỏ lối quản lý hành chính cung cấp, thực hiện phương pháp quản lý theo phương thức kinh doanh xã hội chủ nghĩa, … xây dựng cách tổ chức quản lý của nền công nghiệp lớn nhằm thúc đẩy quá trình đưa nền kinh tế quốc dân từ sản xuất nhỏ tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa". Ngày 10/3/1975 Chính phủ đã ban hành bản điều lệ về chế độ hợp đồng kinh doanh (ban hành kèm theo Nghị định 54/CP ngày 10/3/1975 của hội đồng chính phủ). Nội dung chính của Nghị định 54/CP chủ yếu gồm các vấn đề: Vai trò của hợp đồng kinh tế, nguyên tắc ký kết, và thực hiện hợp đồng kinh tế, giải quyết tranh chấp và trách nhiệm do vi phạm chế độ hợp đồng … Đặc điểm chính của hợp đồng theo Nghị định 54/CP là khi ký kết hợp đồng phải bảo đảm hai yêu cầu: bảo đảm yếu tố trao đổi tài sản và bảo đảm tính kế hoạch của nhà nước.

Việc quy định hợp đồng phải bảo đảm yếu tố kế hoạch của nhà nước đã làm cho bản chất của hợp đồng bị thay đổi và hợp đồng trở thành công cụ của nhà nước để can thiệp vào các hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, nội dung quy định Nghị định 54/CP về hợp đồng cũng đã đáp ứng yêu cầu của công việc của công cuộc cải cách kinh tế, đưa quan hệ hợp đồng trở thành nề nếp. Từ đầu những năm 80, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để áp dụng các quan hệ hợp đồng. Đặc trưng của các quy định pháp luật áp dụng các quan hệ hợp đồng trong giai đoạn này là chịu ảnh hưởng sâu sắc của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp cao độ, biện pháp hành chính được sử dụng phổ biến làm sai lệch bản chất của các quan hệ hợp đồng với những đặc trưng của nó bình đẳng, tự định đoạt giữa các chủ thể.

Phương pháp áp dụng của luật hành chính đã phổ cập trong các quan hệ dân sự. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các văn bản ban hành trong giai đoạn này có tính hiệu lực tương đối cao thể hiện dưới dạng Luật, Pháp lệnh và các Nghị định hướng dẫn thi hành, các Luật và Pháp lệnh được Quốc hội và Hội đồng Nhà nước ban hành. Các văn bản pháp luật, Pháp lệnh Chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam (1988): nội dung chính của pháp lệnh là quy định các điều kiện của các dây chuyền công nghệ khi chuyển vào Việt Nam, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế (1989), Pháp lệnh Hợp đồng dân sự (1991). Đối với pháp lệnh hợp đồng kinh tế ở Việt Nam, nó đã thể chế hoá được những quan điểm và tư tưởng về đổi mới trong quản lý kinh tế của Đảng và Nhà nước, bảo đảm tính chất bình đẳng và tự nguyện khi ký kết hợp đồng kinh tế, tách các quan hệ hợp đồng kinh tế thành một loại hợp đồng độc lập và nhằm phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ