CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VẤN ĐỀ GIAO KẾT HĐMBHH 1.1 Khái quát chung về giao kết HĐMBHH.1 Khái quát chung về HĐMBHH 1.1 Khái niệm: Để hiểu về khái niệm HĐMBHH trước hết ta cần hiểu thế nào là hàng hóa. Khái niệm hàng hóa được định nghĩa theo nhiều góc độ khác nhau như kinh tế chính trị học, từ điển học. mà bản chất chung là sản phẩm lao động của con người nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu con người, và được đưa ra trao đổi, mua bán. Hàng hóa là đối tượng mua bán phải không thuộc danh mục hàng hóa cấm kinh doanh theo quy định của Nhà nước (quy định tại văn bản hợp nhất 19/VBHN-BCT nghị định quy định chi tiết luật thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện) Nếu hàng hóa đó thuộc danh mục hạn chế kinh doanh hoặc kinh doanh có điều kiện thì phải tuân theo đầy đủ các quy định của pháp luật về mua bán các loại hàng đó.
Khái niệm này và khái niệm tài sản trong luật dân sự có những điểm tương đồng: “tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai” (Điều 105- BLDS 2015). Cả 2 khái niệm này đều đưa ra dựa trên việc liệt kê đối tượng của “tài sản” và “hàng hóa” và có thể thấy khái niệm “tài sản” đã bao hàm luôn cả khái niệm “hàng hóa” hay có thể nói hàng hóa cũng chính là một loại tài sản[5]. Xét về mua bán hàng hóa, “Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, là sự thỏa thuận theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận” (Điều 3- LTM 2005) đồng thời việc mua bán hàng hóa được thực hiện trên cơ sở hợp đồng.
Chế định hợp đồng là một chế định ra đời từ sớm nhất trong hệ thống pháp luật. Kể từ khi loài người có nhu cầu hoạt động giao lưu, trao đổi với nhau, thì đó cũng chính là lúc làm xuất hiện hợp đồng. Do đó khái niệm hợp đồng được thay đổi theo thời gian. Theo pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991; “hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận của các bên về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê, vay, mượn, tặng, cho tài sản, làm một việc hoặc không 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com làm một việc, dịch vụ hoặc các thỏa thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng”.[4] Khái niệm này không đầy đủ và để bao trùm được toàn bộ các loại hợp đồng xảy ra trong thực tế BLDS 2015 có định nghĩa lại “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự” (Điều 388 BLDS năm 2015 ) - khái niệm này được kế thừa từ khái niệm về hợp đồng dân sự từ BLDS 2005.
Hai khái niệm này không đồng chất nhưng đều thể hiện được bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận, thống nhất ý kiến giữa các bên. Như vậy hợp đồng dân sự không chỉ là sự thỏa thuận để một bên chuyển giao tài sản, thực hiện công việc cho bên kia mà có thể còn là sự thỏa thuận để thay đổi hay chấm dứt các nghĩa vụ đó. Đồng thời có thể thấy, hợp đồng dân sự có những yếu tố cơ bản sau đây: Thứ nhất, hợp đồng dân sự được hình thành dựa trên cơ sở thỏa thuận và thống nhất ý chí giữa các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng đó. “Thỏa thuận” theo từ điển tiếng Việt có nghĩa là: Đi tới sự đồng ý sau khi cân nhắc, thảo luận.
được thể hiện ở chỗ không có một ý kiến đối lập của bất cứ một bộ phận nào trong số các bên liên quan đối với những vấn đề quan trọng và thể hiện thông qua một quá trình mà mọi quan điểm của các bên liên quan đều phải được xem xét và dung hoà được tất cả các tranh chấp; là việc các bên (cá nhân hay tổ chức) có ý định chung tự nguyện cùng nhau thực hiện những nghĩa vụ mà họ đã cùng nhau chấp nhận vì lợi ích của các bên. Sự đồng tình tự nguyện này có thể chỉ được tuyên bố miệng và được gọi là thoả thuận quân tử (hợp đồng quân tử) hay được viết thành văn bản gọi là hợp đồng viết hay hợp đồng thành văn. Tuỳ theo từng trường hợp được gọi là hợp đồng hay hiệp định; vd. hiệp định mua bán, hợp đồng đại lý.
có nghĩa là hợp đồng phải chứa đựng yếu tố tự nguyện khi giao kết nó phải có sự trùng hợp ý chí của các bên. Việc giao kết hợp đồng dân sự phải tuân theo các nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng, tự do giao kết hợp đồng, nhưng không được trái pháp luật và đạo đức xã hội. Yếu tố thỏa thuận đã bao hàm trong nó yếu tố tự nguyện, tự định đoạt và sự thống nhất về mặt ý chí. Đây là yếu tố quan trọng nhất tạo nên sự đặc trưng của hợp đồng so với các giao dịch dân sự khác, đây cũng là yếu tố làm nên bản chất của Luật dân sự so với các ngành luật khác.
Thứ hai, hợp đồng dân sự phải có sự tham gia của các bên. Chủ thể giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự phải có ít nhất từ hai bên trở lên, vì hợp đồng dân sự là một giao dịch pháp lý song phương hay đa phương. Các chủ thể khi giao kết, thực hiện hợp đồng đều phải có tư cách chủ thể tức là phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com pháp luật đối với một chủ thể của quan hệ dân sự (ví dụ: nếu chủ thể là cá nhân thì phải đáp ứng được các yêu cầu về năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự…) Thứ ba, hậu quả pháp lý của sự thỏa thuận giữa các bên trong quan hệ hợp đồng là nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự. của các bên khi tham gia hợp đồng là để xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
Quyền và nghĩa vụ dân sự trong hợp đồng có phạm vi rất rộng, trước đây trong Pháp lệnh hợp đồng dân sự ngày 29-4-1991 (Điều 1) quy định hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận của các bên về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê, vay, mượn, tặng, cho tài sản, làm một hoặc không làm công việc, dịch vụ hoặc các thỏa thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì không liệt kê cụ thể các quyền và nghĩa vụ dân sự cụ thể đó tuy nhiên về bản chất thì các quyền và nghĩa vụ mà các bên hướng tới khi giao kết, thực hiện hợp đồng là những quyền và nghĩa vụ để đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu trong sinh hoạt, tiêu dùng, đó cũng chính là một trong những đặc điểm cơ bản để phân biệt giữa hợp đồng dân sự và các hợp đồng kinh tế, thương mại. Xét riêng về HĐMBHH, trước hết nó có bản chất chung của hợp đồng, là sự thoả thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán. Dù Luật Thương mại 2005 không đưa ra định nghĩa về HĐMBHH song có thể các định bản chất pháp lý của HĐMBHH trong thương mại tuy nhiên trên cơ sở điều 430 của Bộ luật Dân sự 2015 về hợp đồng mua bán tài sản: “Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán”.
Do đó, HĐMBHH trong thương mại là một dạng cụ thể của HĐMBTS, và mang những đặc điểm chung của hợp đồng nói chung bao gồm[4]: Thứ nhất, HĐMBHH là hợp đồng ưng thuận – tức là những hợp đồng theo quy định của pháp luật, quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh ngay sau khi các bên thỏa thuận xong các điều khoản cơ bản, nôi dung chủ yếu của hợp đồng. Trong trường hợp này, dù rằng các bên chưa trực tiếp thực hiện nghĩa vụ đã cam kết nhưng đã phát sinh quyền yêu cầu của bên này với bên kia trong việc thực hiện hợp đồng. Hay nói cách khác, hợp đồng ưng thuận là nhứng hợp đồng mà thời điểm có hiệu lực của nó được xác định tại thời điểm giao kết. Thứ hai, HĐMBHH là hợp đồng có tính đền bù – là những hợp đồng mà trong đó mỗi bên chủ thể sau khi đã thực hiện cho bên kia một lợi ích sẽ nhận từ bên kia được một lợi ích tương ứng.
Đặc điểm cơ bản của quan hệ tài sản trong giao lưu dân sự là trao đổi ngang giá. Trong lĩnh vực thương mại thì là vì mục đích lợi nhuận Bởi vậy 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các hợp đồng đều mang tính đến bù. Như vậy bên bán khi thực hiện nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua thì sẽ nhận từ bên mua một lợi ích tương đương với giá trị hàng hóa theo thỏa thuận dưới dạng khoản tiền thanh toán. Thứ ba, HĐMBHH là hợp đồng song vụ – là hợp đồng mà các bên chủ thể đều có nghĩa vụ.
Hay nói cách khác mỗi bên chủ thể của hợp đồng song vụ vừa có quyền vừa có nghĩa vụ. Trong HĐMBHH đều bị ràng buộc bởi nghĩa vụ đối với bên kia, đồng thời lại cũng là bên có quyền đòi hỏi bên kia thực hiện nghĩa vụ đối với mình. Trong HĐMBHH tồn tại hai nghĩa vụ chính mang tính chất qua lại và liên quan mật thiết với nhau: nghĩa vụ của bên bán phải bàn giao hàng hóa cho bên mua và nghĩa vụ của bên mua phải thanh toán cho bên bán. Như vậy có thể khái quát được “Hợp đồng mua bán hàng hoá là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền cho bên bán theo thời hạn, số lượng và phương thức thanh toán mà các bên đã thỏa thuận”[4] 1.