CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 1. Một số khái niệm cơ bản về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế là một trong những hoạt động thương mại được hình thành sớm nhất và ngày càng phổ biến, giữ vị trí quan trọng, góp phần tăng trưởng lớn trong nền kinh tế của các nước đã và đang phát triển trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay. Ngày nay, các giao dịch trong lĩnh vực thương mại hàng hóa quốc tế được thực hiện chủ yếu thông qua các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.Vậy hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là gì? Tùy từng cách tiếp cận pháp luật mỗi nước, các điều ước quốc tế hay tập quán quốc tế ta lại có những cách hiểu khác nhau về khái niệm của hợp đồng thương mại quốc tế. Theo Điều 1 Phụ lục của Công ước La Haye 1964 về Luật thống nhất về mua bán hàng hóa quốc tế thì “Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết giữa các bên có trụ sở thương mại đóng trên lãnh thổ các quốc gia khác nhau nếu có thêm một trong các điều kiện sau: Thứ nhất, hợp đồng liên quan đến vật mà trong thời gian ký kết hợp đồng vật đó được chuyên chở hoặc phải được chuyên chở từ lãnh thổ của quốc gia này đến lãnh thổ của quốc gia khác; Thứ hai, hành vi chào hàng và hành vi chấp nhận chào hàng được thực hiện trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau; Thứ ba, việc giao hàng được thực hiện trên lãnh thổ của một quốc gia khác với quốc gia nơi tiến hành hành vi chào hàng hoặc hành vi chấp nhận chào hàng”.
Công ước Viên 1980 của Liên Hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế lại xác định hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế dựa trên trụ sở thương mại của các bên quốc gia khác nhau. Theo đó, để được coi là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo Khoản 1 Điều 1 Công ước Viên 1980 quy định thì “Công ước này áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau”. Có nghĩa là không phân biệt các bên chủ thể là pháp nhân của cùng một 9 Luan van nước hay tại các quốc gia khác nhau thì việc xác định áp dụng Công ước này phụ thuộc vào trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau thì được phép áp dụng. Cũng giống như Công ước Viên 1980, Bộ nguyên tắc UNIDROIT lại đưa ra một tiêu chí rộng để xác định tính quốc tế của một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, chỉ cần hợp đồng đó thể hiện một mối liên hệ nào đó với hơn một quốc gia, hợp đồng đó được coi là có tính quốc tế.
Trên thực tế, pháp luật Việt Nam vẫn chưa đưa ra khái niệm cụ thể và rõ ràng một cách chính xác về định nghĩa “hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế”. Tuy nhiên, dựa theo các quy định của các văn bản pháp luật Việt Nam hiện nay, có thể xác định một hợp đồng dân sự được coi là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế khi nó có đầy đủ hai yếu tố là tính thương mại và tính quốc tế. Theo pháp luật Việt Nam hiện nay, cách xác định hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trước hết được xác định qua tính thương mại của hợp đồng đó. Theo khoản 1 điều 3 Luật Thương Mại 2005 đã định nghĩa về hoạt động thương mại “ là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”.
Ngoài ra, việc xác định một hợp đồng được coi là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế khi nó đáp ứng được tính quốc tế dựa trên quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài tại khoản 2 điều 663 của Bộ luật dân sự 2015 khi đưa rõ các trường hợp được xác định có tính quốc tế khi thuộc một trong các trường hợp như: “a)Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài; b)các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài; c) các bên tham gia là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.” Tóm lại, một hợp đồng được coi là một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế hoàn chỉnh khi nó đáp ứng được hai yếu tố là tính thương mại và tính quốc tế.2 Đặc điểm của hợp đồng thương mại quốc tế 10 Luan van Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trước hết đó là một hợp đồng, vì vậy nó mang đầy đủ bản chất và đặc trưng của tất cả các loại hợp đồng nói chung. Ngoài ra, xuất phát từ những đặc trưng của hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường, cùng với sự tham gia của yếu tố nước ngoài trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, chúng ta có thể chia hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có những đặc điểm chính như sau: Thứ nhất, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mang đầy đủ các đặc trưng của một hợp đồng mua bán hàng hoá. Thông thường, một hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ có những đặc điểm sau: Về chủ thể của hợp đồng: Các thương nhân hoạt động thương mại, các tổ chức cá nhân hoạt động có liên quan đến thương mại đều là chủ thể của Luật thương mại 2005. Để trở thành thương nhân các cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, pháp nhân tổ hợp tác, hộ gia đình có đủ điều kiện để kinh doanh thương mại theo quy định của pháp luật nếu có yêu cầu hoạt động thương mại thì cơ quan nhà nước có toàn quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và trở thành thương nhân (Điều 2 Luật thương mại 2005).
Về mục đích: Hợp đồng trong lĩnh vực thưong mại là nhằm thực hiện các hành vi thương mại cụ thể sau: mua bán hàng hóa, đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hóa, đại lý mua bán hàng hóa, gia công trong thương mại, đấu giá hàng hóa, đấu thầu hàng hóa, dịch vụ giao nhận hàng hóa, dịch vụ giám định hàng hóa, quảng cáo thương mại, trưng bày giới thiệu hàng hóa. Về hình thức: Theo quy định của Luật thương mại hình thức của hợp đồng thương mại có thể là lời nói, văn bản, hành vi cụ thể hoặc các thông điệp, dữ liệu điện tử và các hình thức thông tin điện tử khác. Như vậy, hình thức của hợp đồng theo Luật thương mại cũng rất đa dạng và rộng rãi. Thứ hai, tính quốc tế - là yếu tố vượt ra khỏi phạm vi một quốc gia.Với hợp đồng mua bán trong nước, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có những đặc điểm sau đây: Về chủ thể: Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là các bên, người bán và người mua, có trụ sở thương mại đặt ở các nước khác nhau.
11 Luan van Về đối tượng của hợp đồng: Hàng hoá là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là động sản, tức là hàng có thể chuyển qua biên giới của một nước. Về đồng tiền thanh toán: Tiền tệ dùng để thanh toán thường là nội tệ hoặc có thể là ngoại tệ đối với các bên. Ví dụ: hợp đồng được giao kết giữa người bán Việt Nam và người mua Hà Lan, hai bên thoả thuận sử dụng đồng euro làm đồng tiền thanh toán. Lúc này, đồng euro là ngoại tệ đối với phía người bán Việt Nam nhưng lại là nội tệ đối với người mua Hà Lan.
Tuy nhiên, cũng có trường hợp đồng tiền thanh toán đều là nội tệ của cả hai bên, như trường hợp các doanh nghiệp thuộc các nước trong cộng đồng châu Âu sử dụng đồng euro làm đồng tiền chung. Về ngôn ngữ của hợp đồng: Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thường được ký kết bằng tiếng nước ngoài, trong đó phần lớn là được ký bằng tiếng Anh. Điều này đòi hỏi các bên phải giỏi ngoại ngữ. Về nguồn của luật điều chỉnh hợp đồng: Luật quốc gia; các điều ước quốc tế và tập quán quốc tế khác về thương mại và hàng hải.
Về cơ quan giải quyết tranh chấp: Tranh chấp phát sinh từ việc giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể là toà án hoặc trọng tài nước ngoài. Và một lần nữa, vấn đề ngoại ngữ lại được đặt ra nếu muốn chủ động tranh tụng tại tòa án hoặc trọng tài nước ngoài.2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh vấn đề hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 1.1 Cơ sở ban hành pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Việt Nam đã và đang trên con đường hội nhập nền kinh tế thế giới. Các quan hệ mua bán hàng hóa trong lĩnh vực thương mại ngày một tăng, thúc đẩy nền kinh tế trong và ngoài nước phát triển. Việc chỉ thực hiện các văn bản pháp luật quốc tế mà Việt Nam đã ký kết và tham gia đôi khi còn khó khăn trong vấn đề ngoại ngữ, văn hóa và tập quán quốc tế giữa các quốc gia khác nhau, gây khó khăn cho các chủ thể tham gia vào hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ở Việt nam.
Do vậy, Việt Nam cũng cần phải có những văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn và quy định về lĩnh vực hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế một cách cụ thể và rõ ràng, giúp tạo điều kiện thuận 12 Luan van lợi trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng giữa các thương nhân trong và ngoài nước khi chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam. Ngoài các nguồn của luật pháp quốc tế quy định trong quan hệ thương mại quốc tế như Công ước Viên 1980, Bộ nguyên tắc Unidroit ,Bộ luật Lahaye, hiệp định incoterm quy định về vận chuyển hàng hóa quốc tế. còn có các văn bản pháp luật quốc gia điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại Việt Nam như Luật thương mại 2005, Bộ luật dân sự 2015, Bộ Luật Hàng hải 2015, Luật Trọng tài thương mại 2010. Nguồn của luật quốc gia Luật quốc gia được hiểu là toàn bộ hệ thống pháp luật của một quốc gia.