CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài TTCK đã hình thành và phát triển từ rất sớm với phiên chợ giao dịch riêng đầu tiên được tiến hành vào năm 1453 tại gia đình lữ điếm Vanber (Bruges, Bỉ)4. Cùng với sự hình thành và phát triển của TTCK là sự hình thành và phát triển của các chủ thể cung cấp dịch vụ cho TTCK như CTCK, công ty quản lý quỹ. Điều này có ý nghĩa đánh dấu sự ra đời của CTCK với vai trò chủ thể quan trọng giúp cho TTCK phát triển. Cũng có thể nói rằng, CTCK đã tồn tại và phát triển trong thời gian không ngắn, tuy nhiên, hiếm có các công trình nào nghiên cứu về toàn bộ hoạt động kinh doanh dịch vụ của CTCK.
Đa số các công trình chỉ tiến hành nghiên cứu từng nghiệp vụ riêng của CTCK, chẳng hạn như nghiệp vụ môi giới, nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán hoặc nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán. Thêm vào đó, dù có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung này nhưng luận án chỉ đề cập và phân tích các công trình có liên quan đến đối tượng nghiên cứu luận án hướng đến mà không giới thiệu toàn bộ các công trình có liên quan về CTCK. Về lĩnh vực bảo lãnh phát hành chứng khoán, có một số công trình sau: Một là, sách “Financial Infrastructure, Underwriter Reputations, and Securities Fraud”5 (Tạm dịch: Cơ sở hạ tầng tài chính, danh tiếng của Người bảo lãnh và gian lận chứng khoán) của Wei-Ling Song. Cuốn sách này đã chỉ ra những nội dung cơ bản của hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán như: giá chứng khoán, danh tiếng của tổ chức phát hành, tổ chức bảo lãnh phát hành, các biến về tình hình tài chính, trách nhiệm của các chủ thể trong hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán.
Trong nghiên cứu của mình, tác giả Song đã chứng minh và xác định được tầm quan trọng, khả năng ảnh hưởng đến hoạt động phát hành chứng khoán là danh tiếng, uy tín của chủ thể bảo lãnh, đặc biệt là vai trò của hoạt động bảo lãnh nhóm (tổ hợp bảo lãnh) trong hoạt động phát hành chứng khoán. Cuốn sách này có những luận điểm quan 4 Ủy ban chứng khoán nhà nước (2002), Giáo trình những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán, NXB Chính trị Quốc gia, tr. 5 Wei-Ling Song (2003), “Financial Infrastructure, Underwriter Reputations, and Securities Fraud”, Wharton Financial Institutions Center [fic.edu/fic/papers/03/0319.pdf và www.tw/2004conference/PAPER/10663.pdf] (truy cập ngày 05/12/2012); Katrina Ellis, Roni Michaely, Maureen O’Hara (2000), “When the Underwriter is the Market Maker: An Examination of Trading in the IPO Aftermarket”, The Journal of Finance, Vol. 8 trọng phù hợp với hướng nghiên cứu của luận án về hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán.
Luận án sẽ kế thừa một số phân tích về tổ hợp bảo lãnh phát hành để làm rõ trong phần phân tích thực trạng và đưa ra định hướng hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này. Hai là, bài viết “The Untold Story of Underwriting Compensation Regulation”6 (Tạm dịch: Chuyện chưa kể của Quy chế về bồi thường trong bảo lãnh phát hành chứng khoán) của William K. Sjostrom, Jr, Giáo sư Luật trường Đại học Arizona. Trong bài viết, tác giả đã trình bày các quy định của pháp luật Mỹ về hoạt động bảo lãnh phát hành đồng thời phân tích các yếu tố tác động đến giá cả của hoạt động bảo lãnh phát hành, qui trình của hoạt động bảo lãnh phát hành, kể cả các yếu tố tác động đến hoạt động bồi thường liên quan đến việc bảo lãnh phát hành chứng khoán, nhất là đối với các đợt IPO – Initial Public Offering (tạm dịch: Phát hành lần đầu ra công chúng).
Những vấn đề tương tự cũng đã được tác giả Ayako Yasuda thể hiện trong bài viết “Relationship Capital and Competition in the Corporate Securities Underwriting Market”7 (tạm dịch: Mối quan hệ vốn và cạnh tranh trong thị trường bảo lãnh phát hành chứng khoán). Trong các bài viết trên, luận án sẽ kế thừa những phân tích về vấn đề bồi thường liên quan đến hoạt động bảo lãnh phát hành khi nghiên cứu thực tiễn và đưa ra định hướng hoàn thiện cho các qui định pháp luật trong nội dung này. Ba là, báo cáo “Development of Legal System for Rights Offering in Japan”8 (tạm dịch: Sự phát triển của các quy định pháp luật về quyền chào bán tại Nhật Bản) do Giáo sư Hiroyuki Kansaku, Đại học Tokyo làm trưởng nhóm. Báo cáo đã trình bày những ảnh hưởng của hoạt động chào bán chứng khoán đến quyền của các cổ đông theo pháp luật Nhật Bản.
Đồng thời, báo cáo cũng phân tích những khía cạnh nhất định trong hoạt động cung ứng dịch vụ bảo lãnh của CTCK về các phương thức bảo lãnh và cách thức sử dụng thông tin trong công bố để thực hiện hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán. Luận án sẽ kế thừa và phân tích, phát triển thêm về các phương phức bảo lãnh phát hành để làm rõ những điểm tương ứng trong pháp luật Việt Nam. Về lĩnh vực môi giới và tư vấn đầu tư chứng khoán, có các công trình như: “Reforming the Regulation of Broker-Dealers and Investment Advisers”9 (tạm dịch: 6 William K. (2010), “The Untold Story of Underwriting Compensation Regulation”, U.
Davis Law Review, Vol. 7 Ayako Yasuda (2001), “Relationship Capital and Competition in the Corporate Securities Underwriting Market” [http://www-siepr.edu/papers/pdf/00-27. 8 Hiroyuki Kansaku (2011), Đại học Tokyo, “Development of Legal System for Rights Offering in Japan”, [www.jp/en/news/2011/20110325-1/02. Laby (2010), “Reforming the Regulation of Broker-Dealers and Investment Advisers”, The business lawyer, Vol.
9 Cải cách Quy chế của các nhà môi giới và tư vấn đầu tư) của Arthur B. Laby; “Broker-Dealers and Investment Adivsers: A Behaviorial-Economics Analysis of Competing. Suggestions for Reform” (tạm dịch: Đại lý Môi giới và Tư vấn Đầu tư: Phân tích kinh tế học hành vi của cạnh tranh. Đề xuất hướng cải cách) của Polina Demina10 và bài viết “Investment Adviser Regulation Post-Madoff: A Brave New World” (tạm dịch: Quy định Cố vấn Đầu tư Post-Madoff: Sự can đảm của thế giới mới) của Kevin A.
Theo đó, các tác giả đều cho rằng trong hoạt động môi giới và hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán có những mối quan hệ nhất định với nhau, đôi khi song hành cùng nhau. Ở đó, pháp luật cần có những quy định cụ thể về tiêu chuẩn và quy tắc ứng xử khi thực hiện các hành vi này bởi vì khả năng gây thiệt hại, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nhà đầu tư trong các hoạt động môi giới, tư vấn đầu tư chứng khoán là khá cao. Theo đó, những yêu cầu về công khai thông tin cần phải được đề cao nhằm hạn chế những xung đột lợi ích trong hoạt động cung ứng dịch vụ môi giới và tư vấn đầu tư chứng khoán. Để kế thừa việc xác định trách nhiệm của chủ thể thực hiện hoạt động môi giới và tư vấn đầu tư chứng khoán, luận án sẽ phân tích và làm rõ hơn thực tiễn áp dụng và thực trạng pháp luật Việt Nam trong phần nội dung này nhằm làm cơ sở cho việc đưa ra các giải pháp hoàn thiện.
Về xung đột lợi ích khi cung cấp dịch vụ của CTCK, có một số công trình nghiên cứu sau: Một là, bài viết “Problem of Conflict of Interest between broker-dealer firm and its clients”12 (tạm dịch: Vấn đề xung đột lợi ích giữa công ty môi giới và khách hàng) của Mag. Mirjana Markovic, giảng viên khoa Luật, Đại học Belgrade. Bài viết có những nội dung cơ bản sau: (i) Xác định được những nguyên nhân cơ bản làm phát sinh xung đột lợi ích giữa CTCK môi giới và khách hàng trong hoạt động môi giới; (ii) phân tích sự phát triển của các lý thuyết liên quan đến sự xung đột lợi ích nêu trên trong quá khứ cũng như những lý thuyết đương đại; (iii) xác định được rõ ràng vấn đề chính của xung đột lợi ích do: bất cân xứng thông tin trong bối cảnh xung đột lợi ích và vi phạm yêu cầu của lòng trung thành, khó khăn trong việc phát hiện hành vi không phù hợp của các CTCK môi giới và các vấn đề thực thi trách nhiệm của họ. Luận án kế thừa các yếu tố tác động, gây nên hiện tượng xung đột lợi ích để từ đó phân tích các 10 Polina Demina (2014), “Broker-Dealers and Investment Adivsers: A Behaviorial-Economics Analysis of Competing.
Suggestions for Reform”, Michigan Law Review, Volume 113, tr. Zambrowicz (2011), “Investment Adviser Regulation Post-Madoff: A Brave New World”, Journal of Business & Technology Law, Volume 6, Issue 2, tr. Mirjana Markovíc (2009), Junior Faculty Member at Faculty of Law, University of Belgrade, “Problem of Conflict of Interest between broker-dealer firm and its clients” [http://www.org/sr/publikacije/clanci/mirjana_radovic/Problem_sukoba_interesa%20. 10 nội hàm liên quan đến vấn đề xung đột lợi ích trong hoạt động kinh doanh dịch vụ của CTCK.
Hai là, bài viết “Are Chinese Walls the Best Solution to the Problems of Insider Trading and Conflicts of Interest in Broker-Dealers?”13 (tạm dịch: Có phải bức tường Trung hoa là giải pháp tốt nhất cho các vấn đề giao dịch nội bộ và mâu thuẫn lợi ích trong các nhà môi giới?) của Christopher M. Gorman, trường Đại học Luật Fordham. Bài viết trình bày những nội dung cơ bản sau: Xác định rõ các quy định của “Chinese Walls” (Bức tường Trung Hoa) xuất phát từ việc ngăn chặn các giao dịch nội bộ và mâu thuẫn lợi ích trong hoạt động kinh doanh dịch vụ của các CTCK, các nhà môi giới chứng khoán; xác định và phân tích những ưu, nhược điểm trong các quy định của Chinese Walls; kết luận về hoàn thiện các quy định về công bố thông tin sẽ hạn chế dần các giao dịch nội bộ và xung đột trong hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính của các CTCK, các nhà môi giới chứng khoán. Luận án sử dụng một số nội dung cơ bản trong việc phân tích nội dung của “Chinese Walls” trong bài viết để làm cơ sở cho việc phân tích các giải pháp hạn chế xung đột và trình bày quan điểm của tác giả về giải pháp hạn chế xung đột lợi ích trên TTCK của pháp luật Việt Nam.
Ngoài ra, còn có báo cáo “Conflicts of Interest and Market Discipline Among Financial Service Firms”14 (tạm dịch: Xung đột lợi ích và kỷ luật thị trường giữa các công ty dịch vụ tài chính) của Ingo Walter đề cập về những xung đột lợi ích liên quan đến hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính trên thị trường tài chính do sự bất cân xứng trong thông tin đem lại.