Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong hệ thống kinh tế thị trường, các ngân hàng thương mại (NHTM) giữ vai trò huyết mạch của nền tài chính quốc gia. Bên cạnh các hoạt động kinh doanh ngân hàng truyền thống định vị vai trò trung gian tài chính, xu hướng mở rộng đầu tư tài chính thông qua hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào các doanh nghiệp ngày càng phát triển cả về số lượng, quy mô và lĩnh vực. Hoạt động này mang lại cho ngân hàng nhiều lợi ích như gia tăng nguồn thu, mở rộng thị trường, đa dạng hóa kênh phân phối và phòng ngừa rủi ro. Tuy nhiên, trước các biến động phức tạp của thị trường tài chính, hoạt động đầu tư góp vốn, mua cổ phần của NHTM cũng bộc lộ nhiều bất cập liên quan đến nguy cơ rủi ro hệ thống, sở hữu chéo, lũng đoạn và chệch hướng mục tiêu an toàn tín dụng.
Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động này đã được hình thành từ Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD) năm 1997, tiếp tục hoàn thiện qua Luật Các TCTD năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Luật Doanh nghiệp năm 2020, Luật Đầu tư năm 2020 cùng các văn bản hướng dẫn chuyên ngành của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Mặc dù vậy, các quy định hiện hành về lĩnh vực được phép đầu tư, điều kiện an toàn, giới hạn tỷ lệ nắm giữ và trình tự, thủ tục chấp thuận vẫn còn nhiều khoảng trống, thiếu tính đồng bộ và gây lúng túng trong thực tiễn áp dụng. Xuất phát từ bối cảnh đó, tác giả Trần Anh Dũng đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Pháp luật về đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào doanh nghiệp trong lĩnh vực ngân hàng" dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Như Chính, chuyên ngành Luật thương mại và dân sự (Hà Nội, 2024).
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là làm rõ các vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật điều chỉnh việc đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào doanh nghiệp trong lĩnh vực ngân hàng, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Để đạt được mục tiêu nêu trên, khóa luận xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tìm hiểu một số vấn đề lý luận về góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của NHTM ở Việt Nam.
- Đánh giá khái quát thực trạng pháp luật về góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của NHTM hiện nay; chỉ ra các hạn chế trong quy định về lĩnh vực thực hiện, điều kiện, giới hạn và thủ tục thực hiện góp vốn, mua cổ phần; từ đó làm rõ và thống nhất các quy định pháp lý có liên quan.
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp trong lĩnh vực ngân hàng.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật về đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào doanh nghiệp trong lĩnh vực ngân hàng. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam điều chỉnh hoạt động này của các NHTM, đồng thời phân tích thực tiễn thi hành, nhận diện các tồn tại, bất cập và nguyên nhân phát sinh trong quá trình áp dụng pháp luật để xây dựng kiến nghị khắc phục.
Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý luận và định hướng chính sách, khóa luận bám sát quan điểm phát triển được nêu tại Quyết định số 986/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, trong đó nhấn mạnh yêu cầu xây dựng khuôn khổ pháp lý tiền tệ - ngân hàng minh bạch, an toàn hệ thống, tuân thủ nguyên tắc thị trường và chuẩn mực quốc tế.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được tác giả trích dẫn và sử dụng làm cơ sở phân tích bao gồm:
- Các luật chung và chuyên ngành: Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS 2015); Luật Doanh nghiệp năm 2020; Luật Đầu tư năm 2020; Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Luật Cán bộ, công chức năm 2008; Luật Viên chức năm 2010; Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.
- Các văn bản dưới luật: Nghị định số 01/2021/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp; Nghị định số 31/2021/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư; Quyết định số 49/2013/QĐ-TTg về góp vốn, mua cổ phần bắt buộc của TCTD được kiểm soát đặc biệt.
- Các thông tư của Thống đốc NHNN: Thông tư số 40/2011/TT-NHNN; Thông tư số 04/2012/TT-NHNN và Thông tư số 30/2014/TT-NHNN về hoạt động ủy thác; Thông tư số 36/2014/TT-NHNN, Thông tư số 22/2019/TT-NHNN và Thông tư số 08/2020/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng.
Bên cạnh đó, tác giả kế thừa các kết quả nghiên cứu học thuật từ các công trình tiêu biểu: Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam (Võ Đình Toản chủ biên, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2021); Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam - Tập 1 (Nguyễn Việt Ty chủ biên, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2020); sách chuyên khảo Pháp luật về góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp Việt Nam (Doãn Hồng Nhung chủ biên, 2012); luận văn thạc sĩ của Nguyễn Nhật Linh (2016); cùng các bài viết nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Tú (Tạp chí Luật học, số 10/2017) và Phạm Thị Giang Thu (Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 1/2013).
Về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu, tác giả vận dụng phương pháp luận Mác - Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và tư tưởng Hồ Chí Minh. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được triển khai gồm: phân tích quy phạm, tổng hợp lý luận, thống kê số liệu, quy nạp, diễn dịch, nghiên cứu tài liệu và đặc biệt là phương pháp luật học so sánh (đối chiếu quy định pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực pháp luật ngân hàng của Nhật Bản, Thái Lan, Singapore và pháp luật công ty của Trung Quốc).
Nguồn dữ liệu thực tiễn được trích xuất trực tiếp từ báo cáo tài chính của các NHTM Việt Nam như NHTM cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank), Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) và Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào doanh nghiệp trong lĩnh vực ngân hàng
Chương 1 tập trung giải quyết các khái niệm cơ bản và bản chất pháp lý của hoạt động đầu tư bằng vốn vào doanh nghiệp trong lĩnh vực ngân hàng. Vốn được xác định là hạt nhân của quan hệ công ty, tạo lập quyền và nghĩa vụ thành viên. Dẫn chiếu Khoản 18 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020 và Khoản 2 Điều 25 Luật Đầu tư năm 2020, tác giả làm rõ bản chất hành vi góp vốn (làm tăng vốn điều lệ) và hành vi mua cổ phần, mua phần vốn góp từ cổ đông hoặc thành viên hiện hữu (chuyển dịch quyền sở hữu tài sản mà không làm thay đổi vốn điều lệ của công ty mục tiêu). Đối với đầu tư nước ngoài, tác giả dẫn thông lệ quốc tế cho thấy tỷ lệ sở hữu dưới 10% thường được xem là đầu tư gián tiếp do nhà đầu tư không can thiệp sâu vào việc điều hành quản lý.
Về đặc điểm, hoạt động góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong lĩnh vực ngân hàng mang 3 đặc trưng lớn:
- Về tài sản đầu tư: Bao gồm Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật và tài sản khác định giá được bằng Đồng Việt Nam. Luật Doanh nghiệp 2020 đã sửa đổi thuật ngữ "giá trị quyền" thành "quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ" để phù hợp với định nghĩa quyền tài sản tại Điều 105 BLDS 2015.
- Chịu sự quản lý nhà nước chặt chẽ của NHNN: Khác với các doanh nghiệp thông thường chịu sự quản lý của cơ quan đăng ký kinh doanh hay công ty chứng khoán chịu sự điều chỉnh của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, TCTD phải tuân thủ cả Luật Doanh nghiệp lẫn các quy chuẩn an toàn của pháp luật ngân hàng.
- Tính chất giao dịch chuyển nhượng: Mua cổ phần, phần vốn góp trên thị trường thứ cấp đơn thuần là việc thay đổi chủ sở hữu, bảo đảm tính thanh khoản cho nhà đầu tư nhưng không làm xáo trộn cấu trúc vốn điều lệ đã đăng ký của doanh nghiệp.
Về hình thức tổ chức theo Điều 6 Luật Các TCTD năm 2010, NHTM trong nước chỉ được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần (ngoại trừ NHTM nhà nước thành lập dưới hình thức công ty TNHH một thành viên nắm giữ 100% vốn). Ngân hàng liên doanh được thành lập dưới dạng công ty TNHH hai thành viên trở lên (tối đa 5 thành viên, tỷ lệ sở hữu của một thành viên và người liên quan không quá 50% vốn điều lệ theo Khoản 5 Điều 2 Thông tư 40/2011/TT-NHNN). Từ đó, tác giả xây dựng bảng so sánh cơ chế chuyển nhượng giữa hai loại hình này:
| Tiêu chí |
Chuyển nhượng cổ phần (Công ty cổ phần) |
Chuyển nhượng phần vốn góp (Công ty TNHH 2 TV trở lên) |
| Quyền tự do chuyển nhượng |
Tự do chuyển nhượng cho bất kỳ chủ thể nào đủ điều kiện (Điểm d Khoản 1 Điều 111 Luật Doanh nghiệp 2020). |
Bị ràng buộc chặt chẽ bởi quan hệ đối nhân và nguyên tắc ưu tiên nội bộ (Điều 52 Luật Doanh nghiệp 2020). |
| Thủ tục chào bán nội bộ |
Không bắt buộc chào bán cho các cổ đông hiện hữu trước khi chuyển nhượng ra bên ngoài. |
Bắt buộc chào bán cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ vốn; chỉ được bán ra ngoài nếu nội bộ không mua hết sau 30 ngày. |
| Giới hạn thời gian sáng lập |
Hạn chế trong thời hạn 3 năm đối với cổ đông sáng lập (chỉ được bán cho người ngoài khi Đại hội đồng cổ đông chấp thuận). |
Không áp dụng giới hạn thời gian 3 năm như công ty cổ phần, tuân thủ nguyên tắc chuyển nhượng nội bộ xuyên suốt. |
| Ràng buộc theo Điều lệ |
Điều lệ có thể hạn chế chuyển nhượng, nhưng chỉ có hiệu lực khi được ghi rõ trên cổ phiếu tương ứng. |
Do bản chất tin cậy nội bộ, quy chế Điều lệ được áp dụng theo các quy định bảo toàn thành viên công ty đối nhân. |
Chương 2: Thực trạng pháp luật về đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào doanh nghiệp trong lĩnh vực ngân hàng
Chương 2 phân tích chi tiết các quy định pháp luật thực định và nhận diện những khoảng trống thể chế:
- Quy định về tỷ lệ sở hữu tại TCTD: Theo Luật Các TCTD 2010 (sửa đổi 2017), TCTD cổ phần phải có tối thiểu 100 cổ đông. Giới hạn tỷ lệ sở hữu cổ phần: một cổ đông cá nhân không được vượt quá 5%; một cổ đông tổ chức không vượt quá 15%; cổ đông và người có liên quan không vượt quá 20% vốn điều lệ (bao gồm cả vốn ủy thác). Cổ đông sáng lập phải nắm giữ tối thiểu 50% vốn điều lệ trong 5 năm đầu kể từ ngày cấp giấy phép, trong đó các pháp nhân sáng lập phải giữ tối thiểu 50% tổng số cổ phần của nhóm sáng lập.
- Giới hạn chủ thể: Khoản 3 Điều 17 Luật Doanh nghiệp 2020, Luật Cán bộ, công chức 2008 và Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 nghiêm cấm cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang sử dụng công sản để góp vốn vụ lợi riêng; cán bộ, công chức, viên chức không được quyền thành lập, tham gia quản lý doanh nghiệp.
- Các hình thức đầu tư của NHTM theo Điều 103 Luật Các TCTD 2010:
- Thành lập hoặc mua lại công ty con, công ty liên kết: Bắt buộc áp dụng trong các lĩnh vực chứng khoán, cho thuê tài chính, bảo hiểm; được phép thực hiện trong quản lý tài sản bảo đảm, kiều hối, ngoại hối, vàng, bao thanh toán.
- Góp vốn thông thường: Hoạt động trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng và "lĩnh vực khác" (vận tải, hàng không, xây dựng...).
- Góp vốn vào quỹ đầu tư hoặc ủy thác đầu tư (điều chỉnh bởi Thông tư 30/2014/TT-NHNN).
- Góp vốn, mua cổ phần bắt buộc đối với TCTD bị kiểm soát đặc biệt theo Điều 149 Luật Các TCTD 2010 và Quyết định 49/2013/QĐ-TTg.
- Giới hạn mức góp vốn và bất cập phát sinh: Theo Khoản 3 Điều 20 Thông tư 36/2014/TT-NHNN, NHTM và các công ty trực thuộc không được sở hữu quá 11% vốn điều lệ của một doanh nghiệp thông thường và dưới 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết của một TCTD khác. So sánh quốc tế cho thấy giới hạn 11% của Việt Nam cao hơn đáng kể so với mức 5% của Nhật Bản (Điều 16-3 Luật Ngân hàng số 59/1981 sửa đổi năm 2006) và Thái Lan (Luật Các tổ chức kinh doanh tài chính), cũng như mức 10% tại Singapore (Điều 32 Luật Ngân hàng 1970 sửa đổi 2008).
Tác giả chỉ ra 4 hạn chế lớn của hệ thống pháp luật thực định:
- Quy định thiếu đồng bộ về "lĩnh vực khác": Khoản 4 Điều 103 Luật Các TCTD 2010 cho phép NHTM góp vốn vào "lĩnh vực khác" phi tài chính nhưng Khoản 5 lại quy định phải có sự chấp thuận bằng văn bản của NHNN mà không ban hành tiêu chí cụ thể.
- Lỗ hổng kiểm soát sở hữu chéo: Giới hạn 11% và 5% dễ dàng bị vô hiệu hóa thông qua mạng lưới công ty con, trái phiếu doanh nghiệp và ủy thác đầu tư. Minh chứng là vụ việc NHTM CP Á Châu (ACB) năm 2012 gián tiếp kiểm soát lượng lớn cổ phần tại NHTM CP Đại Á, NHTM CP Kiên Long và NHTM CP Việt Nam - Thương Tín (VietBank) thông qua các công ty thành viên và cá nhân giữ vai trò chủ chốt.
- Mức đầu tư dài hạn thực tế quá lớn: Số liệu báo cáo tài chính cho thấy danh mục đầu tư dài hạn vào các công ty của nhiều ngân hàng rất cao: Techcombank góp vốn vào 15 công ty, VPBank là 13 công ty và Vietcombank là 11 công ty, gây khó khăn cho việc giám sát an toàn vốn.
- Thiếu hướng dẫn thống nhất về trình tự, thủ tục: NHNN chưa ban hành quy trình cụ thể cho từng phương thức đầu tư, dẫn đến tình trạng áp dụng tùy nghi và thiếu minh bạch.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng và giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào doanh nghiệp trong lĩnh vực ngân hàng
Chương 3 tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật: Các NHTM nhìn chung tuân thủ các quy định về hình thức hợp đồng, nghĩa vụ tài chính và các thủ tục hành chính, không phát sinh nhiều tranh chấp khiếu kiện công khai ra tòa án. Tuy nhiên, đằng sau sự ổn định hình thức là tình trạng sở hữu chồng chéo phức tạp thông qua cấu trúc sở hữu hình tháp.
Để tháo gỡ các vướng mắc, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp hoàn thiện:
- Hoàn thiện quy định về lĩnh vực và hình thức đầu tư: Sửa đổi cụ thể Khoản 2 Điều 103 Luật Các TCTD năm 2010 (sửa đổi 2017) nhằm định rõ cơ sở pháp lý cho cả hai chiều: thành lập mới và mua lại công ty con. Quy định chặt chẽ để TCTD và các công ty con chỉ hoạt động trong những lĩnh vực pháp luật cho phép; bắt buộc mọi hoạt động góp vốn vào "lĩnh vực khác" ngoài tài chính đều phải xin chấp thuận bằng văn bản của NHNN.
- Bổ sung các biện pháp tiền kiểm bảo đảm an toàn hệ thống: Xây dựng bộ tiêu chuẩn bắt buộc NHTM phải đáp ứng trước khi góp vốn lập công ty con (thời gian hoạt động, kết quả kinh doanh năm liền kề, tỷ lệ nợ xấu, hệ số an toàn vốn CAR). Đồng thời, kiểm soát chặt chẽ quan hệ ủy quyền góp vốn, nguồn gốc dòng tiền; cấm tập đoàn kinh tế sở hữu ngân hàng để cấp vốn cho các dự án nội bộ; hạ ngưỡng sở hữu phải công bố thông tin của cổ đông lớn từ 5% xuống 1% (dẫn chứng cảnh báo từ nghiên cứu của Trần Dục Thức: một nhóm 10 cá nhân, mỗi người giữ 4,99% đã có thể chi phối một ngân hàng mà không cần công bố thông tin).
- Bảo vệ quyền tiếp cận thông tin của cổ đông thiểu số: Học hỏi kinh nghiệm tại Điều 35 Luật Công ty Trung Quốc năm 2005, cho phép cổ đông có lý do chính đáng được quyền yêu cầu điều tra trực tiếp sổ sách, chứng từ kế toán của công ty và có quyền khởi kiện ra tòa án nếu ban quản lý khước từ yêu cầu này.
- Ban hành quy trình, thủ tục hành chính chuyên biệt: Xây dựng hồ sơ và trình tự riêng cho từng phương thức: lập mới pháp nhân do NHTM nắm 100% vốn, nắm trên 50% vốn, góp vốn vào doanh nghiệp đang hoạt động và ủy thác đầu tư. Đối với hoạt động ủy thác đầu tư, tác giả đồng thuận với quan điểm của chuyên gia cần siết chặt tối đa hoặc loại bỏ hoạt động này để phòng ngừa lũng đoạn tài chính.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và phân tích toàn diện hệ thống số liệu, giới hạn pháp lý và thực trạng đầu tư góp vốn của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam:
| Chỉ số / Quy định pháp lý |
Quy định hiện hành tại Việt Nam |
Tham chiếu quốc tế / Dữ liệu thực tiễn |
| Tỷ lệ sở hữu tối đa của cá nhân tại TCTD |
Không quá 5% vốn điều lệ (Khoản 2 Điều 55 Luật Các TCTD) |
Nhằm hạn chế cá nhân thâu tóm ngân hàng |
| Tỷ lệ sở hữu tối đa của tổ chức tại TCTD |
Không quá 15% vốn điều lệ |
Loại trừ trường hợp xử lý TCTD khó khăn |
| Tỷ lệ cổ đông và người liên quan tại TCTD |
Không quá 20% vốn điều lệ (tính cả vốn ủy thác) |
Ngăn ngừa việc dùng người thân chi phối ngân hàng |
| Tỷ lệ nắm giữ của cổ đông sáng lập |
Tối thiểu 50% vốn điều lệ trong 5 năm đầu |
Bảo đảm tính ổn định điều hành của TCTD mới lập |
| Giới hạn NHTM góp vốn vào DN thông thường |
Không quá 11% vốn điều lệ (Thông tư 36/2014) |
Nhật Bản: 5%; Thái Lan: 5%; Singapore: 10% |
| Giới hạn NHTM góp vốn vào TCTD khác |
Dưới 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết |
Tránh chi phối trực tiếp giữa các TCTD |
| Số công ty nhận vốn đầu tư dài hạn |
Khảo sát thực tế tại báo cáo tài chính NHTM |
Techcombank: 15; VPBank: 13; Vietcombank: 11 |
| Ngưỡng công bố thông tin cổ đông lớn |
Hiện hành: 5% vốn cổ phần (đề xuất hạ xuống 1%) |
Ngăn chặn hiện tượng lách luật 4,99% của nhóm lợi ích |
Về đóng góp học thuật và thực tiễn: Khóa luận không đi theo lối mòn phân tích vốn công ty cổ phần nói chung mà tập trung trực diện vào tính chất đặc thù của hoạt động góp vốn, mua cổ phần của các tổ chức tín dụng. Tác giả đã bóc tách được sự mâu thuẫn giữa quy định quản lý và quyền tự do kinh doanh tại Điều 103 Luật Các TCTD, chỉ ra các kẽ hở pháp lý tạo điều kiện cho hiện tượng sở hữu chéo (như trường hợp điển hình của ACB và các ngân hàng liên quan năm 2012). Hệ thống giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ từ khâu tiền kiểm, kiểm soát dòng tiền, bảo vệ cổ đông thiểu số theo kinh nghiệm nước ngoài đến việc chuẩn hóa thủ tục hành chính tại NHNN.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, do giới hạn về nguồn tài liệu tiếp cận, nghiên cứu chủ yếu dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật công khai và số liệu phản ánh trên báo cáo tài chính của một số NHTM lớn (Vietcombank, Techcombank, VPBank, ACB); chưa tiếp cận được các kết luận thanh tra chuyên sâu của NHNN về dòng tiền thực tế đằng sau các hợp đồng ủy thác. Bên cạnh đó, phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào NHTM, chưa đi sâu phân tích mô hình góp vốn của TCTD phi ngân hàng hay các tổ chức tài chính vi mô.
Hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài bao gồm việc đánh giá sự thay đổi của khung pháp lý khi Luật Các tổ chức tín dụng mới được ban hành và có hiệu lực thi hành; nghiên cứu sâu hơn về cơ chế kiểm soát dòng tiền xuyên biên giới của nhà đầu tư nước ngoài khi tham gia cơ cấu lại các ngân hàng yếu kém; và xây dựng mô hình giám sát tích hợp giữa NHNN và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đối với các tập đoàn tài chính đa năng.
Giá trị tham khảo
Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Dân sự, Tài chính - Ngân hàng đang thực hiện các chuyên đề nghiên cứu về M&A ngân hàng và quản trị công ty cổ phần. Tài liệu cũng có giá trị thực tiễn đối với cán bộ pháp chế tại các TCTD, luật sư tư vấn tài chính doanh nghiệp và các cán bộ làm công tác quản lý, thanh tra giám sát ngân hàng.
Những phần có giá trị tham khảo cao nhất trong khóa luận gồm:
- Bảng phân tích so sánh cơ chế chuyển nhượng cổ phần và phần vốn góp theo Luật Doanh nghiệp 2020 tại Chương 1.
- Toàn bộ nội dung phân tích khoảng trống pháp lý tại Điều 103 Luật Các TCTD và hiện tượng thâu tóm ngân hàng lòng vòng tại Chương 2.
- Kiến nghị lập pháp về tiêu chí tiền kiểm an toàn vốn và đề xuất học hỏi kinh nghiệm Điều 35 Luật Công ty Trung Quốc về bảo vệ quyền kiểm tra thông tin của cổ đông tại Chương 3.
Câu hỏi thường gặp
1. Pháp luật hiện hành quy định giới hạn tỷ lệ sở hữu cổ phần tối đa của một cá nhân và một tổ chức tại tổ chức tín dụng cổ phần là bao nhiêu?
Theo quy định của Luật Các TCTD năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), một cổ đông cá nhân không được sở hữu vượt quá 5% vốn điều lệ; một cổ đông tổ chức không được sở hữu vượt quá 15% vốn điều lệ của một TCTD (trừ các trường hợp đặc biệt như xử lý TCTD khó khăn hoặc sở hữu vốn nhà nước). Cổ đông và người có liên quan của cổ đông đó không được sở hữu vượt quá 20% vốn điều lệ của một TCTD, tỷ lệ này bao gồm cả phần vốn ủy thác cho tổ chức, cá nhân khác mua cổ phần.
2. Ngân hàng thương mại được phép góp vốn, mua cổ phần tối đa bao nhiêu phần trăm tại một doanh nghiệp thông thường và tại một TCTD khác?
Theo Khoản 3 Điều 20 Thông tư số 36/2014/TT-NHNN, mức góp vốn, mua cổ phần của một NHTM và các công ty con, công ty liên kết của NHTM đó không được vượt quá 11% vốn điều lệ của một doanh nghiệp nhận vốn góp. Đối với trường hợp góp vốn, mua cổ phần vào một TCTD khác, giới hạn sở hữu bắt buộc phải dưới 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết của TCTD đó.
3. Tỷ lệ giới hạn 11% vốn góp của NHTM vào doanh nghiệp thông thường tại Việt Nam cao hay thấp hơn so với các nước trong khu vực?
Tỷ lệ 11% của Việt Nam cao hơn quy định của nhiều quốc gia. Cụ thể: Luật Ngân hàng Nhật Bản năm 1981 (sửa đổi năm 2006, Điều 16-3) áp dụng "Quy tắc 5%", không cho phép ngân hàng hoặc công ty con nắm giữ quá 5% số cổ phần biểu quyết của một công ty; Luật Ngân hàng Thái Lan cũng quy định mức trần 5%; trong khi Luật Ngân hàng Singapore năm 1970 (sửa đổi năm 2008, Điều 32) khống chế mức cổ phần lớn (major stake) không vượt quá 10%.
4. Khóa luận đã dẫn chứng vụ việc nào để chứng minh tình trạng lách luật về giới hạn sở hữu chéo thông qua công ty liên kết và ủy thác?
Khóa luận phân tích trường hợp thực tế của NHTM CP Á Châu (ACB) vào thời điểm năm 2012. Thông qua các công ty con và các cá nhân giữ vai trò quan trọng, ACB đã gián tiếp nắm giữ lượng cổ phiếu lớn tại 3 ngân hàng khác gồm: NHTM CP Đại Á, NHTM CP Kiên Long và NHTM CP Việt Nam - Thương Tín (VietBank), sau đó triển khai các hoạt động đầu tư, góp vốn và giao dịch tiền gửi, tín dụng lòng vòng với các ngân hàng này.
5. Vì sao tác giả đề xuất hạ ngưỡng sở hữu cổ phần phải công bố thông tin từ 5% xuống 1%?
Tác giả dẫn chứng nghiên cứu của nhóm tác giả Trần Dục Thức cho thấy nếu giữ ngưỡng công bố thông tin là 5%, chỉ cần một nhóm liên minh gồm 10 cá nhân (mỗi cá nhân nắm giữ 4,99% cổ phần) là đã có thể thâu tóm, chi phối toàn bộ hoạt động của một ngân hàng mà không bị ràng buộc nghĩa vụ công khai thông tin. Do đó, việc hạ ngưỡng công bố thông tin xuống 1% sẽ giúp cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng và các cổ đông nắm bắt đầy đủ, minh bạch cấu trúc sở hữu thực chất của TCTD.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Anh Dũng là công trình nghiên cứu chuyên khảo có kết cấu chặt chẽ, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực trạng pháp lý điều chỉnh hoạt động đầu tư góp vốn, mua cổ phần của NHTM tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa phân tích quy phạm, so sánh pháp luật quốc tế và đối chiếu dữ liệu thực tế từ các ngân hàng lớn, đề tài đã chỉ rõ những nguy cơ tiềm ẩn từ hiện tượng sở hữu chéo và khoảng trống pháp lý tại Điều 103 Luật Các TCTD. Hệ thống các giải pháp hoàn thiện được tác giả kiến nghị có cơ sở khoa học vững chắc, đóng góp những luận cứ thiết thực cho công tác hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực giám sát an toàn hệ thống ngân hàng.