Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH ĐẤT ĐAI CỦA TRUNG QUỐC 1. LƯỢC SỬ CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI CỦA TRUNG QUỐC Trung Quốc thực hành chế độ đất đai công hữu, tức là chính sách sở hữu toàn dân và chính sách sở hữu tập thể của nông dân về đất đai Hiến pháp quy định về chế độ sở hữu đối với đất đai; chế độ sử dụng đất đai; chế độ sử dụng và bảo vệ đất đai canh tác nông nghiệp [5, tr. Luật dân sự và luật hình sự của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đặt ra những quy định như chủ thể quyền đối với tài sản là đất đai, các hình phạt đối với các hành vi phạm pháp trong lĩnh vực đất đai v.v… Trung Quốc cho đến nay vẫn chưa ban bố được "Luật Đất đai" mà chỉ xuất phát từ góc độ quản lý để ban hành Luật Quản lý đất đai và Luật Quản lý nhà cửa ở thành phố. Nhưng trong nội dung Luật Quản lý đất đai của Trung Quốc đã quy định về cả chế độ sử dụng đất và quản lý đất đai.
Trong nhiều năm qua, Trung Quốc đặc biệt coi trọng cải cách chính sách, pháp luật đất đai, coi đó là một nội dung hết sức quan trọng của cải cách kinh tế- xã hội, cải cách xí nghiệp quốc hữu. Để đáp ứng kịp với nhu cầu phát triển của kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa và công việc cải cách mở cửa, từ những năm 70 của thế kỷ 20 trở lại đây việc cải cách và hoàn thiện các chính sách và pháp luật về quản lý đất đai của Trung Quốc thể hiện ở ba mặt chủ yếu sau: Thứ nhất, về mặt chế độ sử dụng đất đai đã có những cải cách lớn. Trong thời kỳ kế hoạch hóa đã thực hành chính sách sử dụng đất đai không mất tiền, không kỳ hạn, không cho phép chuyển nhượng. Do vậy, với tư cách là chủ sở hữu nhưng nhà nước không thu được lợi ích kinh tế, tài sản 10 z đất đai quốc gia bị thất thoát, đất đai không được sử dụng có hiệu quả, chế độ sử dụng đất đai không đáp ứng được yêu cầu khách quan của thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, gây trở ngại cho sự phát triển kinh tế.
Việc cải cách chế độ sử dụng đất đai diễn ra từ năm 1986. Trên cơ sở phân tách quyền sở hữu, quyền sử dụng, thực hiện chế độ sử dụng mới là có trả tiền, có kỳ hạn và được chuyển nhượng theo pháp luật, làm cho đất đai trở thành một loại hàng hóa đặc biệt tham gia vào lưu thông thị trường, thay đổi cơ bản việc giao đất từ đơn thuần bằng các biện pháp hành chính, chuyển sang việc cung ứng đất đai chủ yếu bằng cơ chế thị trường, xây dựng và phát triển thị trường quyền sử dụng đất xã hội chủ nghĩa, sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm có hiệu quả. Thứ hai, tư tưởng chỉ đạo về mặt xây dựng pháp luật đã có cải cách rất lớn. Trước năm 1998 trọng điểm là cải cách đối với xây dựng ở đô thị; sau năm 1999 trọng điểm là bảo hộ đất canh tác nông nghiệp.
Thứ ba, là cải cách về mặt chế độ thẩm định xét duyệt về đất đai. Trước năm 1998 thực hành chế độ phê duyệt đất đai phân cấp và theo hạn mức; sau năm 1999 thực hành chế độ quản lý chủ yếu theo mục đích sử dụng. Luật Quản lý đất đai hiện hành được ban hành năm 1986, có hiệu lực từ ngày 01/1/1987, đã được sửa đổi hai lần. Lần thứ nhất được sửa đổi theo nội dung chính được sửa đổi trong Hiến pháp năm 1988, quy định quyền sử dụng đất đai thuộc sở hữu Nhà nước và sở hữu tập thể có thể được chuyển nhượng theo đúng pháp luật.
Lần sửa đổi thứ hai được thông qua tại kỳ họp thứ 4 Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khóa IX, tháng 8 năm 1998, việc sửa đổi lần này được tiến hành theo chủ đề trọng tâm và thiết thực là để bảo vệ đất canh tác và quản lý đất đai theo mục đích sử dụng; chia đất đai thành đất nông nghiệp, đất xây dựng và đất chưa sử dụng. Nghiêm khắc hạn chế chuyển đổi đất nông nghiệp thành đất xây dựng, khống chế tổng lượng đất xây dựng, thực hiện bảo vệ đặc biệt đất canh tác. CHÍNH SÁCH VÀ PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI CỦA TRUNG QUỐC Luật Quản lý đất đai của Trung Quốc được thông qua tại kỳ họp thứ 4, Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc khóa IX, tháng 8 năm 1998, có hiệu lực từ ngày 01/01/1999 quy định: Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thực hiện chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về đất đai, tức là chế độ sở hữu toàn dân và chế độ sở hữu tập thể của quần chúng lao động. Sở hữu toàn dân, tức là quyền sở hữu đất đai thuộc sở hữu nhà nước do Quốc vụ viện thay mặt nhà nước thực hiện.
Mọi đơn vị và cá nhân đều không được xâm chiếm, mua bán hoặc bằng những hình thức khác nhau để chuyển nhượng phi pháp đất đai. Quyền sử dụng đất đai có thể chuyền nhượng theo luật định [26, tr. Theo Điều 8 Luật Quản lý đất đai; đất đai thành phố (đô thị) thuộc sở hữu nhà nước. Đất nông thôn và ngoại ô thành phố, trừ đất do pháp luật quy định thuộc sở hữu nhà nước, đều thuộc sở hữu của tập thể nông dân; đất thổ cư, đất phần trăm, đồi phần trăm đều thuộc sở hữu tập thể nông dân.
Theo Điều 10 Luật Quản lý đất đai thì đất đai thuộc sở hữu tập thể nông dân theo luật định thuộc sở hữu tập thể nông dân nông thôn, thì tổ chức kinh tế tập thể thôn hoặc Hội đồng dân làng kinh doanh, quản lý; trường hợp đất đai đã thuộc sở hữu tập thể nông dân của hai tổ chức kinh tế tập thể nông thôn trở lên trong thôn, thì do từng tổ chức kinh tế tập thể nông thôn hoặc tổ dân làng kinh doanh, quản lý; trường hợp đất đai đã thuộc sở hữu tập thể nông dân xã (trấn), thì do tổ chức kinh tế tập thể nông thôn xã (trấn) kinh doanh, quản lý. PHÂN LOẠI ĐẤT ĐAI Ở TRUNG QUỐC Theo Điều 4 Luật Quản lý đất đai nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thì Nhà nước thi hành chế độ quản chế mục đích sử dụng đất đai. Nhà nước đưa ra quy hoạch tổng thể sử dụng đất, quy định mục đích sử dụng đất đai, chia đất thành đất nông nghiệp, đất xây dựng và đất chưa sử dụng. Nghiêm khắc hạn 12 z chế chuyển đổi đất nông nghiệp thành đất xây dựng, khống chế tổng lượng đất xây dựng, thực hiện bảo vệ đặc biệt đất canh tác.
Đất nông nghiệp nói ở trên là chỉ đất trực tiếp dùng trong sản xuất nông nghiệp, bao gồm đất canh tác, đất lâm nghiệp, đồng cỏ, đất dùng trong thủy lợi tưới tiêu, đất ao hồ dùng trong chăn nuôi. Đất xây dựng là chỉ đất dùng xây dựng các công trình kiến trúc, cấu trúc bao gồm đất dùng xây dựng các cơ sở công cộng, đất dùng trong công nghiệp khoáng sản, đất dùng cho các cơ sở giao thông, thủy lợi, đất dùng cho lu lịch, đất dùng cho các cơ sở quân sự. Đất chưa sử dụng là chỉ đất ngoài đất nông nghiệp và đất xây dựng. Sự phân loại đất đai trên đây cho phép Quốc vụ viện, chính quyền nhân dân các cấp, các cơ quan quản lý sử dụng đất quy hoạch và thiết kế cụ thể chế độ sử dụng từng loại đất theo mục đích cụ thể và khống chế nghiêm ngặt việc chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất xây dựng.
CHẾ ĐỘ SỞ HỮU ĐẤT ĐAI Ở TRUNG QUỐC Theo quy định tại Điều 8 Luật Quản lý đất đai của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1999 thì Đất đai thành phố thuộc sở hữu Nhà nước. Đất nông thôn và ngoại ô thành phố, trừ đất do pháp luật quy định thuộc sở hữu nhà nước, đều thuộc sở hữu của tập thể nông dân; đất thổ cư, đất phần trăm, đồi phần trăm đều thuộc sở hữu tập thể nông dân. - Đất nông nghiệp tại nông thôn thuộc sở hữu tập thể (đại diện là ban lãnh đạo thôn do người dân trong thôn bầu ra). Ban lãnh đạo thôn căn cứ số nhân khẩu thực tế trong thôn tại thời điểm giao khoán đất, thực hiện việc giao khoán đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân trong thôn sử dụng.
Thời gian giao khoán đất nông nghiệp là 30 năm; diện tích đất nhận khoán được sử dụng ổn định trong suốt thời gian nhận khoán. Người nhận khoán đất nông nghiệp có quyền cho thuê quyền sử dụng đất (người thuê phải sử dụng đúng mục 13 z đích), để thừa kế quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất để liên kết sản xuất, kinh doanh nông nghiệp theo mục đích sử dụng đã được xác định. - Chế độ sử dụng đất nông nghiệp về nguyên tắc vẫn tuân thủ chế độ sở hữu tập thể được quy định trong Luật Quản lý đất đai năm 1999 [26, tr. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu cho phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao mức thu nhập của người nông dân trong chính sách tam nông của Đảng Cộng sản Trung Quốc, vài năm gần đây một số quy định trong chế độ sử dụng đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài và quyền của người được giao khoán đất nông nghiệp ngoài quyền được cho thuê, được góp vốn còn được bổ sung thêm quyền chuyển nhượng, thế chấp quyền sử dụng đất.
Nhìn tổng thể thì từ trước đến nay, ở Trung Quốc thi hành chế độ công hữu về đất đai, tức là chế độ sở hữu toàn dân và chế độ sở hữu tập thể của nông dân về đất đai. Pháp luật đã quy định đất đai trong khu vực đô thị của thành phố thuộc sở hữu Nhà nước. Đất đai ở nông thôn và ngoại ô đô thị thuộc sở hữu tập thể của nông dân (ngoài phần sở hữu nhà nước do luật định); đất làm nhà ở, đất tự canh, đất đồi núi thuộc sở hữu tập thể nông dân. Đất thuộc sở hữu toàn dân chiếm 53%; đất thuộc sở hữu tập thể chiếm 46% và đất chưa rõ sở hữu chiếm 1% [23, tr.
Theo sự phân chia đất đai căn cứ vào đặc trưng về sở hữu thì đất sở hữu nhà nước chủ yếu là đất xây dựng, còn đất sở hữu tập thể chủ yếu là đất nông nghiệp, tỷ lệ đất xây dựng thuộc sở hữu tập thể là không lớn.