Chương 1 LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT 1. Những khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về bồi thường thu hồi đất Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng: "Bồi thường: đền bù những tổn hại đã gây ra". 30] Trong lĩnh vực pháp luật, trách nhiệm bồi thường được đặt ra khi một chủ thể có hành vi gây thiệt hại cho chủ thể khác trong xã hội.
Trách nhiệm này được nhiều ngành luật đề cập như trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong lĩnh vực pháp luật dân sự; trách nhiệm bồi thường oan, sai do hành vi của các cơ quan tố tụng gây ra trong lĩnh vực pháp luật hình sự; trách nhiệm vật chất do hành vi của người lao động gây ra trong lĩnh vực pháp luật lao động. Trong lĩnh vực pháp luật đất đai, thuật ngữ bồi thường (hay đền bù) thiệt hại để thực hiện GPMB ở Việt Nam được đặt ra từ rất sớm. Nghị định số 151/TTg ngày 14/01/1959 của Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ) "Quy định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất", tại Chương II đề cập đến việc "Bồi thường cho người có ruộng đất bị trưng dụng"; Thông tư số 1792/TTg ngày 11/01/1970 của Thủ tướng Chính phủ về "Quy định một số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đai, cây cối lưu niên, các hoa mầu cho nhân dân ở những vùng xây dựng kinh tế mở rộng thành phố" cũng đề cập đến vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Tuy nhiên, Luật đất đai năm 1993 và các văn bản hướng dẫn thi hành được ban hành lại sử dụng thuật ngữ đền bù.
Chỉ đến khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 2001 ra đời, thuật ngữ bồi thường mới được sử dụng trở lại và tiếp 11 Luan van tục xuất hiện trong Luật đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Luật đất đai năm 2013 và các nghị định hướng dẫn thi hành ra đời kế thừa thuật ngữ bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Vậy hiểu như thế nào là bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất?. Theo quan niệm của Luật đất đai năm 2013: "Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất" (Khoản 12 Điều 3).
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mang một số đặc trưng cơ bản sau đây: - Vấn đề bồi thường chỉ đặt ra khi Nhà nước thu hồi đất của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; - Việc bồi thường cho người sử dụng đất không do lỗi của Nhà nước gây ra mà xuất phát từ nhu cầu chung của xã hội, của cộng đồng; - Việc bồi thường về đất thực hiện không căn cứ vào giá chuyển nhượng QSDĐ thực tế trên thị trường (trao đổi ngang giá) mà dựa vào giá đất cụ thể do Nhà nước xác định tại thời điểm thu hồi đất; Để hiểu rõ hơn bản chất của bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, chúng ta hãy phân biệt nó với các loại bồi thường trong một số lĩnh vực pháp luật khác. Khái nhiệm về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất Công việc bồi thường giải phóng mặt bằng thường là những việc nặng nề nhất của các dự án đầu tư. Trong nhiều trường hợp do không chuẩn bị tốt việc táiđịnh cư, không xác định giá cả bồi thường hợp lý, không kiên quyết thực hiện cưỡng chế giải phóng mặt bằng đã làm nhiều công trình bị ách tắc. Từ đó nhiều người đã ngộ nhận rằng việc bồi thường giải tỏa là trở lực của các dự án phát triển.
Quan niệm không đúng này dễ dẫn đến các giải pháp sai lầm khi thực hiện giải phóng mặt bằng để cải tạo và phát triển đô thị. 12 Luan van Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa. Đây cũng là quá trình phát triển đô thị hóa và phát triển toàn diện đất nước. Toàn bộ quá trình này có 4 tiến trình song hành: Một là tiến trình di dân từ nông thôn về đô thị và vùng kinh tế mới.
Hiện nay mức độ đô thị hóa của nước ta mới đạt 25%. Khi việc công nghiệp hóa thành công (vào khoảng năm 2020), mức độ đô thị hóa có thể đạt tới 40 – 45%, lúc ấy dân sống trong các đô thị sẽ tăng lên đến khoảng 40 triệu người. Đây là quá trình tái định cư vào đô thị theo nhu cầu phát triển đất nước. Ngoài di dân vào đô thị,việc khai hoang mở các nông trại, các lâm trường cũng là một khâu quan trọng trong việc tái bố trí dân cư nhằm mục đích khai thác tốt hơn tài nguyên và bảo vệ môi trường sinh thái.
Hai là tiến trình tái bố trí mục đích sử dụng đất theo quy hoạch. Việc quy hoạch cải tạo và phát triển các đô thị để phục vụ quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa là một công việc tất yếu. Tiến trình này ở đô thị có 2 nội dung: cải tạo chỉnh trang đô thị cũ và quy hoạch phát triển các khu đô thị mới. Khi thực hiện các quy hoạch này không tránh khỏi việc di dời tái định cư.
Ba là tiến trình nâng cao năng suất lao động, đồng thời với nó là nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế vì năng suất lao động công nghiệp cao hơn năng suất lao động nông nghiệp giản đơn. Quá trình công nghiệp hóa đòi hỏi đào tạo và đào tạo lại lao động. Việc tái định cư phải đảm bảo việc này để phục vụ công nghiệp hóa đất nước. Bốn là tiến trình cải thiện đời sống nhân dân.
Nâng cao mọi mặt đời sống của nhân dân là mục tiêu cơ bản của phát triển. Phương châm chỉ đạo cơ bản của công tác bồi thường tái định cư là đảm bảo cuộc sống của người dân bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ. Mỗi người dân sẽ được hưởng lợi từ 2 nguồn: từ sự bồi thường táiđịnh 13 Luan van cư trực tiếp khi thực hiện dự án và từ sự phát triển chung của đô thị do dự án mang lại. Đời sống của người dân không ngừng nâng cao là biểu hiện của phát triển.
Dựa trên những khái niệm đã nêu và những phân tích ở trên chúng ta có thể thấy: Bồi thường giải phóng mặt bằng là quá trình các cơ quan nhà nước tiến hành quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai và Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất nhằm tạo lập quỹ đất "sạch" để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Khái niệm thực hiện pháp luật về bồi thường thu hồi đất Trong bồi thường giải phóng mặt bằng và thu hồi đất thì việc thực hiện đúng các quy định của pháp luật và một đòi hỏi hết sức quan trọng và nó xuất phát từ một số lý do sau: Thứ nhất, xét về bản chất, pháp luật mang giá trị công bằng. Điều này thể hiện, trước pháp luật không có bất kỳ một tổ chức, cá nhân nào có được ưu đãi, đặc quyền hơn so với các chủ thể khác trong xã hội. Mọi tổ chức, cá nhân đều được hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ pháp lý khi tham gia quan hệ pháp luật.
Quyền và nghĩa vụ của chủ thể quan hệ pháp luật được ghi nhận bởi các quy định của pháp luật và được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước. Mọi hành vi vi phạm pháp luật đều được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh nhằm bảo đảm sự thượng tôn của pháp luật. Trên cơ sở đó, trật tự xã hội được duy trì và bảo đảm. Chính vì vậy, mọi người trong xã hội đều lấy pháp luật làm tấm gương để soi chiếu, so sánh và tự điều chỉnh hành vi xử sự của mình.
Hơn nữa, pháp luật còn là sự phản ánh ý nguyện, tâm tư, nguyện vọng của các thành viên trong xã hội. Cho dù pháp 14 Luan van luật là sản phẩm do con người làm ra nên khó tránh khỏi sự ảnh hưởng của ý chí chủ quan của nhà làm luật hoặc phản ánh ý chí của giai cấp cầm quyền song pháp luật phải phản ánh được những yêu cầu khách quan của xã hội. Có nghĩa là pháp luật muốn đi vào cuộc sống và muốn được người dân tự giác tuân thủ chấp hành thì nó phải phản ánh ý nguyện của đại đa số quần chúng nhân dân trong xã hội. Mặt khác, giá trị xã hội của pháp luật còn thể hiện ở chỗ pháp luật không chỉ là công cụ quản lý xã hội của Nhà nước mà nó còn có vai trò kiến tạo, điều tiết các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ đất đai nói riêng.
Thông qua pháp luật, các chủ thể tham gia quan hệ đất đai dung hòa, "thỏa hiệp" các mâu thuẫn về lợi ích nhằm bảo đảm việc sử dụng đất của mình không làm phương hại, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của người sử dụng đất có liên quan. Thứ hai, thông qua cơ chế điều chỉnh của pháp luật giúp Nhà nước giải quyết hài hòa mối quan hệ về lợi ích giữa các bên liên quan: Lợi ích của Nhà nước, của cộng đồng; lợi ích của người bị thu hồi đất; lợi ích của doanh nghiệp, chủ đầu tư. Bởi lẽ, pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ cho các chủ thể tham gia quan hệ đất đai. Điều này có nghĩa là không có bất kỳ chủ thể nào chỉ có quyền mà không phải thực hiện nghĩa vụ và ngược lại khi tham gia quan hệ đất đai.
Trong trường hợp một chủ thể khi sử dụng đất thực hiện các quyền do pháp luật quy định mà gây phương hại đến lợi ích chính đáng của chủ thể sử dụng đất khác thì họ phải có nghĩa vụ khắc phục hoặc bồi thường do hành vi của mình gây ra. Thông qua đó, các lợi ích khác nhau, thậm chí đối lập nhau của các chủ thể được dung hòa trong khuôn khổ quy định của pháp luật. Thứ ba, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là lĩnh vực khó khăn, phức tạp và nhạy cảm; bởi nó trực tiếp động chạm đến lợi ích thiết thực của các bên liên quan mà trước hết là người sử dụng đất.